Ba Cay Truc

Bảng quảng cáo
  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

26/10:Ngày Độc Lập của Việt Nam (Kỳ 3)

Email In

26 tháng 10 ngày Độc Lập của Việt Nam (tiếp theo)

Kỳ 3 (Phạm Văn Lưu)

Nội Tình Chính Trị Việt Nam

Khi ông Diệm quyết định về nước để đảm nhận vai trò cứu quốc trong một tình thế vô cùng tuyệt vọng lúc đó, ngay cả những người cố vấn thân cận nhất của ông cũng can ngăn. Thật vậy, chính ông Ngô Đình Luyện đã mạnh mẽ khuyên ông Diệm đùng nhận lời mời của Quốc Trưởng Bảo Đại. Và khi ông Diệm đánh điện về nước yêu cầu ông Ngô Đình Nhu thành lập một Ủy Ban Đón Tiếp, ông Nhu đã phúc đáp xin ông Diệm hoãn quyết định về nước trong một vài tháng, để xem xét tình thế lúc đó đang diễn biến hết sức mau lẹ và cho Ủy Ban có thời gian chuẩn bị. Nhưng ông Diêm bác bỏ mọi can gián và cương quyết về nước. Ông tin rằng đây là cơ hội quyết định và cuối cùng, khả dĩ còn lại để ông cứu nước và bảo vệ phần đất miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng Sản (ông Ngô Đình Luyện phỏng vấn với tác giả)

Ngày 19. 6. 1954, ông Diệm chính thức chấp nhận sự ủy nhiệm của Quốc Trưởng Bảo Đại vào chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ về nước thành lập nội các. Trong dịp này, Quốc Trưởng Bảo Đại cũng trao cho ông Diệm một đạo dụ ủy nhiệm cho toàn quyền hành động về hành chánh cũng như quân sự. (Bảo Đại, 1990, tr 515). Ngay sau đó, Ủy Ban Đón Tiếp do ông Ngô Đình Nhu thành lập đã cử luật sư Trần Chánh Thành sang Ba Lê, trình bày tóm lược về tình hình Việt Nam lúc đó cho ông Diệm và họp bàn với Ban Tham Mưu của ông Diệm về chương trình hành động ngay khi Thủ Tướng Diệm bước chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất.

Ngày 7. 7. 1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm chính thức trình diện nội các. Với đạo dụ của Quốc Trưởng Bảo Đại ủy nhiệm toàn quyền hành động về hành chánh và quận sự, trên nguyên tác, Thủ Tướng Diệm là người có nhiều quyền hành nhất tại Việt Nam. Nhưng trong thực tế, những quyền hành đó hoàn toàn nằm trên giấy tờ, vị tân Thủ Tướng này chẳng có một quyền hạn nào cả. Thực vậy, Quân Đội Quốc Gia nằm trong tay tướng Nguyễn Văn Hinh, một quân nhân Việt Nam, nhưng mang quốc tịch Pháp và có vợ đầm, thích nói tiếng Pháp hơn là tiếng Việt. Lực Lượng Công An Cảnh Sát được Quốc Trưởng Bảo Đại đặc nhượng cho Lực Lượng Bình Xuyên điều khiển. Đây là một băng đảng Mafia Việt Nam được phép khai thác sòng bạc Đại Thế Giới, Trung Tâm Hút Ma Tuý Kim Chung và các nhà mãi dâm tại Sàigòn và Chợ Lớn để lấy lợi tức. Riêng sòng bạc Casino Đại Thế Giới, mỗi ngày Bảy Viễn đã giao nộp cho chính phủ của Quốc Trưởng Bảo Đại một triệu đồng kể từ đầu năm 1949 (Bảo Đại, 1990, tr. 416-417).

Còn các tỉnh miền Tây, hoàn toàn nằm trong sự chi phối của các lực lượng võ trang của giáo phái Hòa Hảo dưới quyền của các tướng Trần Văn Soái (biệt hiệu Năm Lửa) và tướng Lê quang Vinh (biệt hiệu Ba Cụt). Và sau hết, các tỉnh Miền Đông nằm dướI quyền kiểm soát của các lực lượng vũ trang thuộc giáo phái Cao Đài do các tướng Nguyễn Thành Phương và Trịnh Minh Thế cầm đầu ( xem thêm George Mc T. Kahin & ed. Governments and Politics in Southeast Asia, 1964, tr. 399- 400)

Thực tế, lúc đó quyền hành của Thủ tướng Diệm không vượt quá khuôn viên của Dinh Gia Long vào những ngày đầu tháng 8. 1954. Ngay cả Lực Lượng Công An Cảnh Sát có trách nhiệm bảo vệ dinh thự này của Thủ Tướng cũng thuộc về phe Bình Xuyên, những người mà Thủ Tướng không thể tin cậy được. Những cộng sự viên thân tín của Thủ Tướng Diệm lúc đó, đã phải tự võ trang thành một tiểu đội khoảng 12 ngườI để tự bảo vệ cho chính mình và cho Thủ Tướng. Bác sĩ Buì Kiện Tín, một cộng sự viện thân cận, ngày ấy là Chủ Tịch Ủy Ban tiếp Đón Đồng Bào Di Cư, rồi Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng, sau cùng đảm nhận Bộ Trưởng Thông Tin trong chính phủ Ngô Đình Diệm, đã nói với người viết rằng:

Vào những ngày đầu mùa Thu năm 1954, tình thế cực kỳ nghiêm trọng; trong Dinh Gia Long lúc bấy giờ, chỉ có một vài người thân tín như ông Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Nhu, Trần Trung Dung, Nguyễn Văn Thoại,Võ Văn Hải... và tôi ăn ngủ luôn trong dinh, chính tôi cũng phải tự võ trang cho chính mình một súng trường và một súng lục... (Bs Bùi Kiện Tín đàm luận vớI tác giả tại Melbourne tháng 6. 1987).

Tình hình chung trong cả nước thật tăm tối. Các cầu cống, đường sá và hệ thống viễn thông đều bị đánh sập và cắt đứt, guồng máy hành chánh rối loan, các dich vụ ngân hàng tài chánh hầu như bị tê liệt vì không còn ai tín nhiệm nữa. Tất cả các sự kiện đó dẫn nền kinh tế quốc gia vào ngõ cụt, không lối thoát. Trong một tình thế cực kỳ bi đát như vậy, việc tiếp nhận và định cư hơn 860.000 đồng bào di cư càng làm cho guồng máy chính quyền miền Nam bị tràn ngập và hỗn loan hoàn toàn. Không một quan sát quốc tế nào, dù là lạc quan, tiên đoán chính phủ Diệm có thể sống lâu hơn sáu tháng. (Carl T. Rowan, The Pitiful And The Proud, 1956, tr. 350).

Các giới kinh doanh, tài chánh Pháp Việt, các giáo phái ủng hộ chính quyền quốc gia trước đây chống lại Cộng Sản, nay không muốn ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm nữa, vì họ không tin chính phủ này có khả năng tồn tại, mà lại còn theo đuổi chính sách chống Pháp, đòi Pháp phải rút khỏi miền Nam càng sớm càng tốt. Theo họ đây là điều vô cùng nguy hiểm và điên khùng. Họ muốn Thủ Tướng Diệm sớm ra đi, để một chính phủ thân Pháp được thành lập, có thể tiếp tục duy trì sự hiện diện của Pháp tại miền Nam. Họ tin tưởng rằng chỉ có Lực Lượng Viễn Chinh Pháp mới có khả năng bảo vệ miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng Sản.

Vì thế, các lực lượng này nối kết với nhau để tìm cách triệt hạ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và kế hoạch đầu tiên của họ là xuí giục tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam đứng lên thách thức quyền hành của Thủ Tướng Diệm.

Tướng Hinh Âm Mưu Đảo Chính

Cuộc khủng hoảng này kéo dài hơn ba tháng, khởi đầu vào những ngày đầu tháng 9. 1954, tướng Hinh công khai chỉ trích Thủ Tướng Diệm trong chương trình Phát Thanh Quân Đội trên Đài Pháp Á Sàigòn và đòi hỏi đất nước cần phải có một chính phủ mới đủ sức mạnh và được hậu thuẫn của quần chúng (ông Ngô Đình Luyện và Bùi Kiện Tín đàm luận với tác giả). Và tướng Hinh không dấu diếm là ông đang chuẩn bị một cuộc đảo chính và kheo rằng ông chỉ cần nhấc điện thoại một cái là ông có thể lật đổ Thủ Tướng Diệm (Joseph Buttinger, 1967, tr. 859)

Để phản ứng lại, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm giữ một thái độ rất ôn hoà. Ngày 11. 9, văn phòng Thủ Tướng Ngô Đình Diệm chỉ thị cho tướng Hinh sang Pháp để quan sát cơ cấu tổ chức quân đội của nước này trong vòng 6 tuần lễ và yêu cầu tướng Hinh rời Việt Nam trong vòng 24 giờ đồng hồ. Tướng Hinh bất tuân chỉ thị này và vài ngày sau, phái xe tăng đến bao vây Dinh Độc Lập, nơi cư ngụ và làm việc của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, vừa mới được tướng Ely của Pháp chuyển giao cho chính quyền Việt Nam, đúng một tuần lễ trước đó. Trước tình hình này, tướng Ely, đề nghị với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, đưa quân đội Pháp đến bảo vệ Dinh Thủ Tướng, ông Diệm từ chối. Mặt khác, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm kêu gọi những đơn vị quân đội trung thành với chính phủ từ miền Bắc và miền Trung vào Sàigòn để tăng cường phòng thủ cho Dinh Độc Lập.

Về phương diện chính trị, tướng Hinh đã kêu gọi được sự ủng hộ của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và Lực Lượng Bình Xuyên trong việc chống lại chính phủ. Trong một bản tuyên ngôn công bố ngày 16. 9 đòi hỏi Thủ Tướng Diệm phải chấm dứt một chế độ tham nhũng đã gây nhiều đau khổ cho dân chúng... và giải phóng đất nước khỏi sự thống trị của ngoại bang.

Đồng thời, bản tuyên ngôn cũng yêu cầu Thủ Tướng Ngô Đình Diệm phải thành lập chính phủ mới có đại diện rộng rãi của các lực lượng chính trị trong nước. Tướng Bảy Viển, chỉ huy Lực Lượng Bình Xuyên, đã đích thân mang bản tuyên ngôn này sang Pháp yêu cầu Quốc Trưởng Bảo Đại can thiệp. Ngày 20. 9, chín trong số mười lăm Bộ Trưởng của chính phủ từ chức, nhằm mục đích chứng tỏ cho dư luận trong và ngoài nước thấy rằng chính phủ Ngô Đình Diệm thật sự sụp đổ.

Trước biến cố này, Đại tá Edward G. Lansdale, Trưởng CIA tại Sàigòn đã dành cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm một sự ủng hộ tích cực và mạnh mẽ từ ban đầu. Ông đã liên lạc với các giáo phái thuyết phục họ tiếp tục ủng hộ chính quyền và yêu cầu các đại diện giáo phái tham gia vào nội các cải tổ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm vào ngày 24. 9.1954 (Edward G. Lansdale, In the Midst of Wars, 1972 tr. 17 và kế tiếp)

Đối với tướng Hinh và Bộ Tham Mưu của ông, khi họ đang tích cực chuẩn bị đảo chính, Edward G. Lansdale cũng đã mời các vị sĩ quan này sang Manila, Phi Luật Tân để xem các hộp đêm hoa lệ của thành phố này. Mặc dù tướng Hinh miễn cưỡng từ chối, nhưng hai vị sĩ quan khác trong nhóm của tướng Hinh, như Đại tá Mai Hữu Xuân đã nhận lời mời. Chính vì việc du hành ngoại quốc của hai vị sĩ quan chủ chốt này đã cản trở kế hoạch đảo chính của tướng Hinh. (Edward G. Lansdale, Op. cit., tr. 175).

Về phía Toà Đại Sứ Hoa Kỳ, Đại sứ Heath đã mau chóng báo tin cho tướng Hinh biết rằng, nếu có một cuộc đảo chính quân sự xãy ra cũng có nghĩa rằng một sự chấm dứt viện trợ Mỹ dành cho Việt Nam sẽ được thực hiện. Hoa Kỳ không thể chấp nhận hành động của tướng Hinh. Ngoài ra, Đại Sứ Heath cũng đã liên lạc với các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo và Bình Xuyên xác định rõ rệt sự ủng hộ mạnh mẽ của Hoa Kỳ dành cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ cũng cần sự ủng hộ của các đảng phái dành cho chính phủ đó.. Tuy nhiên, khác với sự ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm một cách vô điều kiện như Đại Tá Edward G. Lansdale, Đại Sứ Heath, trong điện văn gởI về Hoa Thịnh Đốn đã nhận xét:

Nếu chính phủ của Thủ Tướng Diệm không đạt được kết quả và không chứng tỏ có sự tiến bộ trong một thời gian hợp lý, đương nhiên Hoa Kỳ sẽ cứu xét lại lập trường của họ. (Department of State, Foreign Relations of the United State 1952-1954, Quyển XIII, tr. 2000-2001 và 2048-2052).

Trong khi đó, Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ (MAAG), lập trường của tướng O’ Daniel trong cuộc khủng hoảng này thật đặc biệt. Ông nhận xét rằng tướng Hinh là chiến sĩ xuất sắc nhất của Việt Nam và xứng đáng để lãnh đạo quân đội. Đồng thời, ông bày tỏ sự thiếu kiên nhẫn về thái độ do dự và nhu nhược của chính quyền Diệm (xem thư của Đại Sứ Heath gởi cho Walter Robertson, Phụ Tá Ngoại Trưởng Đặc Trách Về Viễn Đông ngày 16. 9. 1954). Và đến khi Đại Sứ Heath nhận được lời đề nghị của Thủ Tướng Diệm, nhờ Toà Đại Sứ Mỹ giúp phương thức giải quyết cuộc khủng hoảng này bằng cách mời tướng  Hinh sang Mỹ, để chính phũ Việt Nam tổ chức lại cơ cấu lãnh đạo trong quân đội quốc gia. Khi Đại Sứ Heath đem vấn đề này ra bàn cải với tướng O’ Daniel, tướng O’ Daniel mạnh mẽ chống lại ý kiến thay thế tướng Hinh cùng phương cách hành động này. Ông ta còn nhấn mạnh rằng Ông thích Hinh hơn Diệm, nếu trong trường hợp phải chọn lựa một trong hai người.(Ibid.)

Còn về phía tướng Hinh, đúng như chính giớI Mỹ nhận định sau này các sĩ quan quân đội Việt Nam thời đó, là lính đánh thuê cho Pháp, họ không có tinh thần yêu nước, không có đạo đức, không có uy tín trong quần chúng, chỉ biết ăn chơi, bất cứ ai cho họ tiền, địa vị và chức vụ là có thể sai khiến được họ. Chính vì thế, sau khi thấy ngườI Mỹ không ủng hộ cuộc đảo chính, Tướng Hinh nhờ Tướng O’ Daniel dàn xếp để ông ở lại hợp tác với chính quyền Diệm. Theo lờI tường thuật của tướng O’ Daniel, khi ông ta hiện diện trong văn phòng của Tướng Hinh, Tướng Hinh đã nhắc điện thoại gọi cho thứ trưởng Quốc Phòng Lê Ngọc Chấn xác nhận sự trung thành của ông đối với chính phủ và ông Chấn hứa sẽ chuyển lời của Tướng Hinh đến Thủ Tướng Ngô Đình Diệm (Ibid.)

Heath Quyết Định: Diệm Phải Ra Đi

Sau đó, Đại Sứ Heath cũng đồng ý với giải pháp là lưu tướng Hinh lại trong quân đội sau khi tướng Hinh hứa trung thành với chính phủ, nhưng Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cương quyết không chấp nhận giải pháp này của Đại Sứ Heath. Và sau nhiều lần thuyết phục không thành công, Đại Sứ Heath cuối cùng đã đi đến quyết định Diệm phải ra đi và ông đã tường trình về Hoa Thịnh Đốn như sau:

Tôi tin rằng đã có đầy đủ lý do để ủng hộ Diệm cho đến thời điểm này, vì ông ta đã tiêu biểu cho một lý tưởng và đã có được một chút uy tín và niềm tin trong quần chúng. Tuy nhiên, qua tình thế bế tắc liên tục vừa qua, ông ta đã đánh mất phần lớn uy tín và niềm tin của giới trí thức, một thành phần trung gian trong cộng đồng Việt Nam. Hiên nay, trước mắt, không có một người kế nhiệm xứng đáng và chúng ta phải tranh thủ thời gian để chuẩn bị điều mà Mendes Frances gọi là ‘một cơ cấu chính quyền khác’. Tuy nhiên, chúng ta không thể mất nhiều thời gian. Tất cả mọi người ở Toà Đại Sứ tin chắc rằng ông Diệm không thể tổ chức và điều hành một chính quyền vững mạnh.

(Department of State, Foreign Relations of the United State 1952-1954, Quyển XIII, tr.2160)

Tuy nhiên, lúc đó ở Hoa Thính Đốn, với sự ủng hộ mạnh mẽ của phe đa số ở Lưỡng Viện Quốc Hội dành cho Thủ Tướng Diệm, cũng như vì nhu cầu chống Cộng tại Đông Nam Á, Tổng Thống Eisenhower và Hội Đồng Anh Ninh Quốc Gia, sau khi thận trọng cứu xét kỹ lưỡng mọi khía cạnh của tình hình Việt Nam, đã không chấp nhận đề nghị của Đại Sứ Heath, trái lại quyết định củng cố thêm sức mạnh cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Điều này được Tổng Thống Eisenhower xác định rõ ràng trong văn thư ngày 23. 10. 1954 gởi cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm:

Tôi chỉ thị cho Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam sẽ cùng với ngài, trong cương vị một người lãnh đạo chính phủ duyệt xét một kế hoạch khôn khéo cho việc viện trợ trực tiếp đến chính phủ của ngài, có thể giúp đở Việt Nam trong giai đoạn thử thách hiện nay...

Mục tiêu của công cuộc viện trợ này là nhằm giúp đỡ chính quyền Việt Nam trong việc phát triển và duy trì một quốc gia vững mạnh và ổn định, có khả năng chống lại các âm mưu khuynh đảo và xăm lăng bằng những phương tiện quân sự (Department of State, Foreign Relations of the United State 1952-1954, Quyển XIII, tr. 2167) 

Vì sự khác biệt quan điểm của Toà Đại Sứ Mỹ tại Sàigòn và Tòa Bạch –c tại Hoa Thịnh Đốn, Tổng Thống Eisenhower quyết định thay thế Đại Sứ Heath bằng tướng J. Lawton Collins, lúc đó đang là Đại Diện của Hoa Kỳ trong Ủy Ban Quân Sự của Tổ Chức Minh Ước Bắc Đại Tây Dương vào chức vụ Đại Sứ Mỹ tại Sàigòn.

Sự kiện trên đây cho ta thấy một điều khá ngộ nghĩnh trong lịch sử bang giao Việt Mỹ, đó là việc Đại Sứ Heath quyết định ông Diệm phải ra đi, thì trong thực tế chính ông ta phải gĩa từ sân khấu chính trị Sàigòn, chứ không phải ông Diệm.

Lập trường của Hoa kỳ đã được tướng J. Lawton Collins xác định rõ ràng khi bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất:

Tôi đến Việt Nam để mang theo tất cả mọi sự viện trợ khả dĩ giúp đỡ cho chính quyền Diệm và chỉ cho một mình chính quyền của ông ta mà thôi. (US News and  World Report, 4. 3. 1955)

Mặc dù tướng J. Lawton Collins tuyến bố như vậy, nhưng khi tiếp xúc với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, vì bản tính cương trực, ý chí tự chủ và tinh thần bảo vệ độc lập quốc gia của ông đã khiến tướng J. Lawton Collins không vừa lòng. Mặc khác, có lẽ vì tình huynh đệ chi binh và những kinh nghiệm dày dạn về chiến trường Đông Dương, đủ để tướng Ely của Pháp thuyết phục được tướng J. Lawton Collins đứng về phe Pháp chống lại chính quyền Diệm. 

(còn tiếp)