Ba Cay Truc

Bảng quảng cáo
  • Tăng kích thước chữ
  • Kích thước chữ mặc định
  • Giảm kích thước chữ
Chào Mừng Bạn Đến Với Trang Báo Điện Tử­ Ba Cây Trúc **** Mọi bài vở và thư từ xin gởi về bacaytruc@gmail.com**** Có hiểu mới biết thương, có thương thì mới trọng, có trọng thì mới biết giữ gìn ****

26/10:Ngày Độc Lập của Việt Nam (Kỳ 1)

Email In

26 tháng 10

Ngày độc lập của Việt Nam

Ts. Phạm Văn Lưu

BBT.- Để cho bài chứng minh ngày Độc Lập Của Việt Nam là ngày 26 tháng 10 của tién sĩ Phạm Đăng Lưu được đầy đủ, Ban iên Tập Ba Cây Trúc giử nguyên bài viết và xin đăng tải nhiều lần liên tiếp như sau :

 

« Hàng năm, vào ngày 2 tháng 9, Hà Nội long trọng tổ chức Ngày Độc Lập cho Việt Nam. Ý muốn của chính quyền Việt Nam hiện nay là cho dân chúng biết rằng chính họ là người đánh đuổi thực dân Pháp dành Độc Lập cho Việt Nam.

Nhưng ngày nay những tài liệu lịch sử khả tín đã chứng minh ngược lại. Thật vậy, Hồ Chí Minh chưa bao giờ đánh đuổi được người Pháp khỏi Việt Nam, mà còn ký hiệp ước Sơ Bộ ngày 6. 3. 1946 cho phép Thực Dân Pháp chính thức trở lại miền Bắc tái lập chế độ thuộc địa, sau khi chính quyền Pháp tại Đông Dương bị quân đội Nhật đảo chánh ngày 9. 3. 1945.  Mục đích của Hồ Chí Minh khi ký Hiệp Định này là mượn tay Thực Dân Pháp tiêu diệt các Đảng Phái Quốc Gia, nhằm thiết lập chế độ độc tài toàn trị trên cả nước. Họ đã đạt được mục tiêu này, nhưng sau đó, vì quyền lợi mâu thuẩn giữa  Đảng Cộng Sản Việt Nam và Thực Dân Pháp, Hồ Chí Minh phát khởi cuộc chiến tranh Việt-Pháp vào ngày 19. 12. 1946, áp dụng chính sách tiêu thổ kháng chiến hủy hoại toàn bộ đất nước và tài sản quốc gia một cách vô ích, cho mục tiêu duy trì quyền thống trị độc tài của Đảng Cộng Sản trên lãnh thổ Việt Nam.

Đến năm 1954, mặc dù thắng được Thực Dân Pháp ở Điện Biên Phủ, nhưng lúc đó, vì quyền lợi của Trung Cộng và Liên Sô, hai cường quốc Cộng Sản này sợ rằng nếu để cuộc chiến tranh Việt-Pháp lan rộng, chính phủ Hoa Kỳ sẽ liều lĩnh, lợi dụng cơ hội để can thiệp vào chiến trường Đông Dương, có thế đưa đến cuộc đối đầu trực tiếp giữa hai cường quốc này với Hoa Kỳ, nên họ ép buộc Hồ Chí Minh ký kết hiệp đinh Geneva, chia đôi đất nước Việt Nam để nhường miền Nam Việt Nam cho Pháp thống trị. Có lẽ lúc đó không một thành viên nào tham dự hội nghị Geneva nghĩ đến việc Thực Dân Pháp rút khỏi Việt Nam. chỉ trừ có phái đoàn của chính phủ Quốc Gia Việt Nam.

Thật vậy, Chu Ân Lai và Molotov,  muốn Pháp ở lại Việt Nam, để ngăn cản ý đồ của Hoa Kỳ muốn thiết lập căn cứ quân sự tại đây, để thực hiện chính sách bao vây Trung Cộng tại Á Châu. Còn Hồ Chí Minh cũng mong muốn duy trì Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại miền Nam, để cùng với Pháp tổ chức cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 để thôn tính toàn bộ miền đất phía Nam vĩ tuyến 17. Từ những toan tính này, các phe phái liên hệ đã không soạn thảo bất cứ một điều khoản trong hiệp định Geneva, qui định việc Thực Dân Pháp phải rút khỏi Việt Nam1

Trong ý đồ này, chính quyền Hà Nội, luôn luôn nhờ Pháp đòi buộc chính phủ Ngô Đình Diệm phải thi hành Hiệp Định Geneva. Thực vậy, vào ngày 1. 1. 1955, khi thấy Pháp chuyển giao các cơ sở hành chánh và kinh tế lại cho chính quyền miền Nam, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng của Bắc Việt đã gởi văn thư cho Pháp, trong đó viết rằng: Chúng ta đã ký Hiệp Định Geneva, và tùy thuộc vào quí Ngài để đòi buộc họ[chính quyền Miền Nam] tôn trọng Hiệp Định này. (xem P. Devillers. The Struggle for the Unification of Vietnam, in North Vietnam Today, 1962, tr. 31

Vào thời điểm đó,  không một quan sát viên quốc tế nào nghĩ rằng Quốc Gia Việt Nam do Cựu Hoàng Bảo Đại lãnh đạo có thể tồn tại đến ngày Tổng Tuyển Cử, vì họ nghĩ rằng các đảng pháp quốc gia và đặc biệt hơn nữa là các lực lượng quân sự của các giáo phái nhận tiền tài trợ của Pháp và các thế lực tài phiệt của Pháp tại miềm Nam vì mâu thuẩn quyền sẽ dẫn đến những tranh chấp quyết liệt khiến miền Nam tự sụy đỗ và tan rã. Cùng lắm, giả thuyết miền Nam may mắn lắm tồn tại đến tháng 7 năm 1956, thì chính quyền Bảo Đại cũng không đủ ý chí thống nhất và hậu thuẩn của quần chúng để thủ thắng với Cộng Sản trong cuộc tổng tuyển cử được dự trù tổ chức vào giữa năm đó. Từ những suy luận duy lý đó, các quốc gia Cộng Sản thư thái ngồi chờ sự sụp đỗ tất yếu của Miền Nam.

Còn về phía chính phủ Hoa Kỳ đã từ chối không ký vào Hiệp Định này, để dành quyền tự do hành động về sau này. Và trước viễn ảnh đen tối, chẳng còn bao lâu nữa bộ đội Cộng Sản sẽ lan tràn khắp cả lãnh thổ Đông Dương , Ngoại Trưởng Foster Dulles đã gấp rút triệu tập Hội Nghị Manila ngày 8. 9.1954, để thành lập Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á, nhằm ngăn cản sự bành trướng của Cộng Sản xuống miền Nam cũng như Ai Lao và Cao Miên.

Trong tình thế hầu như hoàn toàn tuyệt vọng đó, Ông Ngô Đình Diệm đã chấp nhận mọi thử thách để về nước chấp chánh. Không chỉ những phóng viên báo chí, các nhà bình luận chính trị có ác cảm với ông Diệm, mà ngay những người ủng hộ ông, cũng đều bi quan cho rằng, chính quyền Diệm khó có thể kéo dài hơn 6 tháng.

Nhưng như một phép lạ, với một tinh thần quả cảm, một ý chí sắt đá, một nghị lực phi thường, một cuộc sống đạo đức cá nhân thánh thiện, một quá khứ chống Cộng và chống Thực Dân Pháp không tì vết và đặc biệt hơn cả là với tài lãnh đạo sáng suốt và một viễn kiến chính trị sâu sắc và đứng đắn. Đó là việc phải đáp ứng được khát vọng sâu xa nhất và gần như thiêng liêng về việc khôi phục toàn vẹn chủ quyền và nền độc lập thực sự cho toàn dân sau nhiều năm lệ thuộc ngoại bang.  Nhờ đó, chỉ không đầy 18 tháng cầm quyền, ông đã hoàn toàn xoay chuyển được tình thế. Thât vậy, thành tích trước tiên của chính phủ Diệm là biến một vùng đất hỗn loạn triền miên vì chiến tranh thành một quốc gia ổn định, có kỷ cương và luật pháp. Tiếp đến, ông đã xây dựng được một quân đội quốc gia có kỷ luật, có khả năng và tinh thần chiến đấu và sau hết là ông Diệm đã kiến tạo thể chế dân chủ, tự do, tiến bộ và đầy hiệu năng với sự hậu thuẩn nhiệt tình của tuyệt đại đa số dân chúng thời đó. Chính nhờ những tác nhân tích cực này, ông Diệm đã có đủ sức mạnh tinh thần và uy tín chính trị để dựa vào Công Pháp Quốc Tế đòi Lực Lượng Viễn Chinh Pháp phải triệt thoái khỏi Việt Nam, giao trả toàn bộ chủ quyền và độc lập thực sự cho Việt Nam. Thật vậy, những người lính cuối cùng trong Lực Lượng Viễn Chinh Pháp phải triệt thoái khỏi Việt Nam vào ngày 25. 4 năm 1956. Sau đó, một ngày, Phủ Cao ủy Pháp tại Đông Dương bị hủy bỏ, cũng mang theo ý nghĩa chính thức chấm dứt 72 năm chế độ Pháp Bảo Hộ Việt Nam (1884-1956). 2

Từ những sự kiện lịch sử này, chúng ta có thể đi đến kết luận là chính Ngô Đình Diệm chứ không phải Hồ Chí Minh đã đánh đuổi Thực Dân Pháp để dành lại chủ quyền và độc lập thực sự cho Việt Nam.

Và ngày 26. 10 hôm nay, mi chính là ngày Quc Khánh, k nim ngày thành lp nn Đệ Nht Cng Hòa, mt chính th đã thc s thu hi toàn vn ch quyn và Độc Lp thc s cho dân tc Vit Nam

Và cũng từ đó, chúng ta có thể đi đến một nhận định khác, chính quyền Hồ Chí Minh luôn lợi dụng sinh mang và tài sãn của toàn dân để củng cố quyền thống trị và kiếm tìm đặc quyền, đặc lợi cho đảng Cộng Sản Việt Nam và phục vụ cho mưu đồ của Cộng Sản quốc tế, chứ không bao giờ nghỉ đến đôc lập, chủ quyền của quốc gia và phúc lợi cho dân tộc.

Để có một nhận định khách quan và vô tư về công cuộc tranh đấu dành độc lập của ông Diệm, chúng ta thử tìm hiểu về thái độ của các cường quốc liên hệ vơí Việt Nam như Hoa Kỳ, Pháp và kiểm điểm lại nội tình chính trị Việt Nam vào những năm tháng đó.

 

Diệm tranh đấu dành độc lập

Thật vậy, giờ này, đã hơn nữa thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày ông Diệm về nước chấp chánh và trong khi chế độ Cộng Sản đạng sụp đổ khắp nơi trên thế giới, thì cá nhân ông Diệm và đường lối lãnh đạo chính quyền của con người chống Cộng đầy quả cảm này vẫn còn là đề tài nhiều tranh cãi.  Người viết không có tham vọng giải quyết những vấn nạn này trong bài viết ngắn dành cho tập kỷ yếu về vị lãnh đạo có nhiều đức độ và tài năng này. Ở đây chúng tôi chỉ căn cứ trên một số tài liệu khả tín đã được giải mật và những cuộc phỏng vấn với những người đã thực sự tham dự vào các biến cố lịch sử thời đó, để hiểu rõ hơn về những tháng ngày đầy thử thách khi ông Diệm về nước thành lập chính quyền để khôi phục độc lập cho Việt Nam

Được Mời Làm Thủ Tướng

Đến nay một số tác giả vẫn cho rằng, ông Diệm từ chức Thượng Thư Bộ Lại vào năm 1933, đã sống đã sống một cuộc đời ẩn dật, tách rờI khỏi sân khấu chính trị Việt Nam. Rồi đến năm 1950, khi du hành qua Hoa Kỳ với ý định đi tu đã sống khép kín trong các tu viện công giáo, không biết gì đến những biến chuyển của tình hình thế giới. Nhưng nhờ có ông anh, Giám Mục Ngô Đình Thục, nên được giáo hội Công Giáo La Mã hậu thuẩn và từ đó có được sự ủng hộ và can thiệp mạnh mẽ của Đức Hồng Y Spellman và ngoại trưởng Foster Dulles, cuối cùng chính quyền Pháp đã phải yêu cầu Quốc Trưởng Bảo Đại mời Ông Diệm về nước chấp chánh. Rồi nhờ chính quyền Hoa Kỳ hết lòng giùp đở, nên ông Diệm mới có thể đứng vững trước tình thế ngã nghiêng của đất nước. Chứ ông Diệm chẳng có tài cán gì đặc biệt cả. Cho nên, đến năm 1963, khi Hoa Kỳ bỏ rơi, ông mới bị các tướng lãnh sát hại.

Nhưng ngày nay, những sử liệu đáng tin cậy cho thấy rằng những lập luận này là hoàn toàn thiếu cơ sở, nếu không muốn bảo là sai lầm. Thật vậy, những công trình nghiên cứu nghiêm túc của sử gia Edward Miller đăng trên Journal of South East Asian Studies số 35 do Đaị Học Quốc Gia Singapore ấn hành vào tháng 10. 2004 đã cho thấy rằng, vào thập niên 1930, dù không còn giữ chức vụ nào và đang bị cảnh sát Pháp theo dõi, ông đã đóng một vai trò tích cực trong những biến chuyển chính trị của Triều Đình Huế. Rôi đến thập niên 1940, khi quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương, ông đã dựa vào thế lực của người Nhật để hổ trợ cho những nỗ lực chống Pháp nhằm tranh thủ độc lập cho Việt Nam và cũng trong giai đoạn này, ông cũng liên lạc với Kỳ Ngoại Hầu Cường Đễ đang sống lưu vong ở Nhật Bản và thành lập một chính đảng bí mật nhằm chuẩn bị cho sự nghiệp chính trị sau này. Chính vì những hoạt động này, mà ông đã phải lẫn tránh vào Toà Tổng Lãnh Sự Nhật ở Huế để tránh sự truy lùng của Mật Thám Pháp.

Rồi đến thập niên 1950, khi đến Hoa Kỳ sống tại Institute of Chinese Culture và các tu viện của các Cha Myryknoll ở Lakewood, New Jersey rồi đến Ossining, thuộc Nữu Ước, kế đến, là Tu Viện Biển Đức (Benedectine) ở vùng Saint-Andre Les Bruges thuôc Bỉ Quốc, ông Diệm đã không bị cô lập như nhiều ngươì lầm tưởng, mà việc làm đó còn mang tính cách chiến lược nhiều hơn. Thật vậy, những tu viện này đã cung cấp cho ông mạng lưới Công Giáo quốc tế, giúp cho ông có thể chuyển những tin tức một cách an toàn cho các đồng minh của ông tại Đông Dương, tránh sự theo dõi của mật vụ Pháp. Cũng như trong thời điểm này, các cộng sự viên của ông và các bào đệ của ông đã thành lập được các chính đảng tại cả 3 miền Trung, Nam và Bắc để chuẩn bị cho ngày trở về của ông. Trong thời gian gần 3 năm sống tại Hoa Kỳ từ 1951- 1953, ông Diệm đã tạo được một tích sản quan trọng trong chính trường Hoa Kỳ. Thật vậy, một số chính trị gia có uy tín như John Kennedy, Mike Mansfield, Dân Biểu J. Zablocki, Dân biểu Edna F. Kelly, Thẩm Phán tối Cao Pháp Viện William O. Douglas, Hồng Y Spellman cùng vô số những nhà báo và một số học giả quan trọng đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với đường lối chính trị của ông Diệm.(xem Joseph Morgan, The Vietnam lobby, The American Friend of Vietnam, 1955-1975, Chapel Hill, NC, Uni. of North Carolina Press, 1997, tr. 1-14)

Độc giả có thể tìm thấy đầy đủ chi tiết quan trọng về những hoạt động chính trị của ông Diệm trong bài của Edward Miller, được trích đăng lại trong đặc san này.

Về việc bổ nhiệm ông Diệm vào chức vụ Thủ Tướng, chính những người trong cuộc như Quốc Trưởng Bảo Đại đã tiết lộ trong hồi ký của ngài, vì tin tưởng và quí trọng đức độ, tài năng và sự quả cảm của ông Diệm nên mỗi lần đất nước ở vào tình thế nghiêm trọng, ngài đã mời Ông Diệm ra thành lập chính phủ, nhưng Ông Diệm đều từ chối. Vào đầu năm 1954, giữa lúc tình hình Việt Nam biến chuyển nhanh chóng, quân Pháp đang bị bao vây nguy khốn ở Điện Biên Phủ và Hội Nghị Geneva sắp khai diễn để giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương. Bảo Đại lại nghĩ đến ông Diệm, nhưng sợ bị ông Diệm từ chối như những lần trước. ngài đã nhờ ông Ngô Đình Luyện, một bạn học cũ của ngài trong thập niên 20 tại Pháp và cũng là bào đệ của ông Diệm làm trung gian, mời ông Diệm đến gặp ngài để bàn về việc thành lập chính phủ nhằm đối phó với tình hình vô cùng bi đát của Việt Nam lúc đó. Việc chỉ định ông Diệm làm thủ tướng là hoàn toàn do chủ ý của Quốc Trưởng, chứ không phải do sự vận động của người Mỹ hay áp lực gì của người Pháp cả. (Bảo Đại, 1990, tr 514 -516).

Về phía Bộ Ngoại Giao Mỹ, những tài liệu còn lưu trữ tại thư viện Dwight D. Eisenhower, đã cho thấy rằng, chính giới Mỹ không hay biết gì việc Quốc Trưởng Bảo Đại mời ông Diêm về nước chấp chánh, cho đến khi Ông Ngô Đình Luyện được cả Quốc Trưởng Bảo Đại lẫn ông Diệm ủy nhiệm tiếp xúc để thăm dò lập trường của chính quyền Hoa Thịnh Đốn. Thật vậy, ngày 18. 5. 1954, theo lờI yêu cầu của ông Ngô Đình Luyện, Smith, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, lúc đó đang dự hội nghị Geneva và Philip Bonsal, Giám Đốc Đông Nam Á Sự Vụ tại Bộ Ngoại Giao, đã đến gặp ông Ngô Đình Luyện tại Ba Lê để bàn về ý định của Quốc Trưởng Bảo Đại chỉ định ông Diệm làm thủ tướng. Sau này, Smith tiết lộ rằng: ông Ngô Đình Luyện đã nói với ông, Pháp có thể sẽ chống đối, nhưng nếu có sự hậu thuẩn của Mỹ, Quốc Trưởng Bảo Đại sẽ chỉ định ông Diệm. (Department of State, Foreign Relations of the United State 1952-1954, 1955-1956,  quyển XVI, tr. 843-849). Tuy nhiên, theo ông Ngô Đình Luyện xác nhận: Vào thời đó, ông và Quốc Trưởng không tin rằng Pháp sẽ ngăn cản việc ông Diệm thành lập chính phủ. (ông Ngô Đình Luyện đàm luận với tác giả tại Ba lê vào tháng 9. 1986 và tại Melbourne tháng 4. 1987).

Sau cuộc hội kiến này, Thứ Trưởng Smith đã khuyến cáo Bộ Ngoại Giao Mỹ nên chỉ thị cho Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Ba Lê tìm cách liên lạc với ông Diệm để thảo luận vấn đề này. Đồng thời, theo lời yêu cầu của Smith, Philip Bonsal cũng thông báo cho chính phủ Pháp biết nội dung cuộc gặp gỡ giữa người Mỹ và ông Ngô Đình Luyện.

Đến ngày 24 và 25. 5. 1954, theo chỉ thị của Hoa Thịnh Đốn, Đại Sứ Mỹ tại Ba Lê là Dillon và một số viên chức khác đã đến gặp ông Diệm để bàn về việc ông nhận chức vụ thủ tướng. Nhưng sự việc đã xãy ra ngoài dự đoán của Hoa Thinh Đốn và các viên chức Mỹ tại Ba Lê, ông Diệm đã nhận lời mời của Quốc Trưởng Bảo Đại về làm thủ tướng, mặc dù chưa biết lập trường của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sau đó, các giớI chức Mỹ cũng tán trợ quyết định của Quốc Trưởng Bảo Đại và ông Diệm, vì nghĩ rằng không có nhân vật nào khá hơn ông Diệm lúc đó. (Department of State, Foreign Relations of the United State 1952-1954, 1955-1956, quyển XIII, tr. 1608-1609).

Trong khi đó, cơ quan CIA của Mỹ đang dành sự ủng hộ cho Bác sĩ Phan Quang Đán, một người tốt nghiệp tại Đại Học Harvard của Mỹ. Thật vậy, Robert Amory, Phó Giám Đốc CIA lúc bấy giờ, đã cung cấp một vài dữ kiện khá ngộ nghĩnh về sự liên lạc giữa CIA và ông Diệm, mà ông ta phát âm là Ziem, Theo Amory, khi ông đang dự một dạ tiệc ở nhà Martin Agronsky, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện William O’ Douglas kéo ông ra một góc phòng và nói với ông: Ông có biết ai là người sẽ giúp ông ở Việt Nam không? NgườI ấy đang sống ở quốc gia này. Đó là Ngô Đình Diệm. Ông lấy sổ tay và ghi vào là Zim Zim. Sáng hôm sau đến văn phòng, ông Amory yêu cầu các nhân viên phụ trách tiểu sử cung cấp bất cứ những chi tiết nào liên quan đến người có tên là Ngo Zim Zim. Nhưng họ đã không tìm được gì cả. Tuy vậy, trong buổi họp sáng hôm sau, ông đã đưa vấn đề ông Diệm ra để thảo luận vớI Allen Dulles, Giám Đốc của CIA, và Frank Wisner, Phó Giám Đốc đặc trách Kế Hoạch. Sau đó, Wisner đã cứu xét đề nghị này.(xem Oral History Interview with Robert Amory ở Kennedy Library, tr 59 -60 và William C. Gibbons, 1986, tr. 262).

Các sử liệu trên đây chứng tỏ CIA hoàn toàn không hay biết gì về cá nhân ông Diêm, cho đến khi ông được Quốc Trưởng chỉ định. Như thế, làm sao có thể bảo rằng Hoa Kỳ đã áp lực với Chính Phủ Pháp để đưa Ông Diệm về nước? 

(còn tiếp)