GIỮA LÒNG DÂN TỘC ?
Em còn nhớ hay em đã quên… ?
Trong khi Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chúng ta vừa long trọng khai mạc Năm Thánh 2010 mừng Kỷ niệm 350 năm thành lập hai giáo phận Việt Nam đầu tiên là Đàng Trong và Đàng Ngoài, và 50 năm thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, qua những buổi lễ vừa sốt sắng trang nghiêm, vừa linh đình trọng thể, thì có một biến cố khác cũng rất là quan trọng nhưng đang bị lãng quên, đó là 2010 cũng là Kỷ niệm 30 năm Thư chung 1980 với phương châm “Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc” hay “Đồng hành với Dân Tộc”.
Bối cảnh và tầm quan trọng của văn kiện
Nay nếu chỉ đọc bản văn trên giấy trắng mực đen và chỉ hình dung các giám mục gặp nhau lần đầu tiên sau ngày thống nhất, tay bắt mặt mừng để cùng nhau cầu nguyện, tìm hiểu ý Chúa, trao đổi với nhau để rồi chia sẻ vui mừng và hy vọng, buồn sầu và lo âu cho cộng đoàn tín hữu, thì sợ rằng chúng ta chưa hiểu hết ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của văn kiện. Cần thiết ta phải nhớ rằng : Văn kiện ra đời 20 năm sau khi thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, 15 năm sau khi Công Đồng Va-ti-ca-nô II kết thúc, và 5 năm sau ngày có người gọi là “giải phóng miền Nam”, còn người Việt hải ngoại thường gọi là “quốc hận”. Tưởng nên nhắc lại là những ngày trước 30-04-1975, quân “giải phóng” đi tới đâu thì dân miền Nam bồng bế nhau bỏ nơi đó mà chạy, có khi giẫm lên nhau mà chạy, thậm chí giẫm lên cả xác người mà chạy. Và 1980 cũng là cao điểm của phong trào vượt biên : chiến tranh đã kết liễu, đất nước đã thống nhất, nhưng chẳng hiểu vì sao mà người ta chấp nhận bỏ lại tài sản, bỏ lại phần mộ của tổ tiên, bất chấp tù đầy nếu bị bắt, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, ai có phương tiện thì tìm đường vượt biên, đến nỗi trong một trại tỵ nạn, một bà cụ già khi được phái đoàn quốc tế hỏi tại sao ở vào tuổi bà mà còn liều lĩnh vượt biên thì bà khảng khái trả lời : “Ở xứ tôi, cây cột điện mà đi được thì nó cũng đi !”…
Thế thì điều không thể nghi ngờ là Thư chung 1980 ngoài mục đích thông tin thông thường, còn nhằm trấn an, xoa dịu, củng cố tinh thần cho các tín hữu Việt Nam trong một hoàn cảnh bi đát chưa từng thấy, nếu không nói là tuyệt vọng, đồng thời đưa ra những đường hướng cụ thể giúp người tín hữu Việt Nam sống đạo.
Nền tảng của Thư chung 1980
Chỉ cần nhìn các trích dẫn, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra nền tảng của văn kiện, đó là Lời Chúa, là giáo huấn của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, giáo huấn của hai vị giáo hoàng Phao-lô VI và Gio-an Phao-lô II (mới bắt đầu sứ vụ Giáo Hoàng được 2 năm). Điều cần lưu ý là văn kiện đã được sự đóng góp của nhiều chuyên viên trong các lãnh vực Thần học, Kinh Thánh, xã hội, v.v… Nhưng điều hiển nhiên hơn cả, là khi đọc thư mục vụ 1980 ta có cảm tưởng như đang hít thở không khí trong lành, lạc quan của Hiến chế “Vui mừng và Hy vọng” của Công Đồng Va-ti-ca-nô II. Thư chung 1980 của HĐGM/VN chính là cẩm nang, là văn kiện định hướng cho các tín hữu Công Giáo Việt Nam đầu thập niên 80 của thế kỷ trước. Và, như đã nói ở trên, chính vì văn kiện dựa trên Lời Chúa cũng như giáo huấn của Công Đồng Va-ti-ca-nô II và của các giáo hoàng, nên không có lý do gì để hoài nghi về nội dung. Và cũng chính vì vậy mà ta có thể nói : Thư chung 1980 không chỉ có giá trị vào thời điểm được viết ra và công bố, nhưng còn có giá trị cho bất cứ giai đoạn nào, bất cứ hoàn cảnh nào.
Một số từ căn bản
Để nắm vững tinh thần bản văn, cần thiết chúng ta phải để ý đến một số từ đặc biệt quan trọng, như những chìa khoá giúp ta hiểu được nội dung :
Nói về Hội Thánh như là
một Dân : 3 lần
Dân riêng 1
Dân giao ước mới 1
Dân mới 4
Dân (Thiên) Chúa 10
Nói về Cộng Đồng Việt Nam như là
Quê hương 5 lần
Đất nước 6
Tổ quốc 8
Dân tộc 23 lần trong đó
2 lần : Dân tộc Việt Nam
1 : Dân tộc mình (= Việt Nam)
1 : từng dân tộc trong nước
1 : mỗi dân tộc trong nước
1 : đồng hành với dân tộc
2 : Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc
Từ những nhận xét trên, ta có quyền nghĩ rằng hình như trong lịch sử, chưa bao giờ lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, trong một văn kiện chính thức, đã không chỉ quan tâm đến Dân Tộc, nhưng còn công khai gắn bó với Dân Tộc đến như thế. Và nói đến Dân Tộc Việt Nam, tức là nói đến cộng đồng gồm những con người chung sống với nhau trên cùng một dải đất, cùng một quê hương, cùng chung một lịch sử, làm nên một thực tại từ bốn ngàn năm nay, và vẫn còn tiếp tục hiện diện. Thành ra khi các giám mục nói người tín hữu Công Giáo Việt Nam phải đồng hành với dân tộc, hay phải sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc, thì điều đó không chỉ đúng khi dân tộc Việt Nam sống dưới chế độ cộng sản, nhưng là dưới bất cứ chế độ nào, vào bất cứ giai đoạn lịch sử nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào, vì lịch sử cho thấy mọi thể chế chính trị đều qua đi theo dòng thời gian, chỉ có dân tộc mới trường tồn.
Tưởng cũng cần nói thêm rằng khi Thư chung 1980 được công bố, không chỉ có người Công Giáo mới vui mừng và hãnh diện, nhưng ngay các cán bộ Nhà Nước Việt Nam cộng sản cũng rất thích thú khi nhắc đến cụm từ “Đồng hành với Dân Tộc.” Là vì đối với họ, “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”. Ta không thể cấm họ suy nghĩ theo cách của họ, nhưng đối với ta thì mọi chuyện khá rạch ròi : dân tộc và chế độ là hai phạm trù khác nhau.
Trong hoàn cảnh hiện tại
30 năm đã trôi qua kể từ ngày Thư chung 1980 được công bố. Nay có vẻ như người Công Giáo chúng ta, đặc biệt là các giám mục, ngại nói đến Thư chung 1980, ít là một cách công khai, trong các văn kiện chính thức. Bằng cớ là 30 năm sau Thư chung 1980, không mấy ai buồn nhắc đến văn kiện quan trọng này, từ những người đã góp phần khai sinh, đến những người đã long trọng công bố, đã vui mừng và hãnh diện giới thiệu cho bàn dân thiên hạ suốt một thời gian dài trong nhiều năm liên tiếp.
Có những cụm từ, những kiểu nói, những khẩu hiệu đã một thời nổi đình nổi đám, đi đâu cũng gặp, đi đâu cũng thấy. Tỷ dụ như “Chủ nghĩa Mác Lê-nin bách chiến bách thắng”, thế nhưng từ thập niên 90 ta dần dần ít thấy, và hiện nay thì hoàn toàn không gặp thấy cụm từ này nữa. Cũng vậy, đã có một thời người ta đề cao chế độ “chuyên chính vô sản”, cụm từ này cũng đã bị “bốc hơi”. Là vì hôm nay cánh vô sản thứ thiệt mà vươn vai đứng dậy thì mấy ông “tư sản đỏ” có mà chạy đàng trời. Thành ra tốt hơn cả là cố quên nó đi, lờ nó đi, coi như không có, nhắc đến làm gì ! Tương tự phương châm “Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc” hay “Đồng hành với Dân Tộc” xét về mặt lý thuyết, là một nguyên tắc hoàn toàn đúng đắn, thế nhưng trong thực tế, nguyên tắc đó, phương châm đó, có vẻ cũng cùng chung số phận với mấy khẩu hiệu ta vừa nói trên kia. Nhưng thử hỏi : Ai chứng minh được rằng đường lối đó là sai, là lỗi thời, là không còn giá trị ? Còn nếu đúng thì cần thiết đường lối đó phải được thể hiện qua cuộc sống cụ thể của Giáo Hội Công Giáo.
Thân phận Việt Nam hôm nay
Trong mọi chế độ đảng trị, quyền lợi tối thượng là quyền lợi của đảng. Ưu tiên số một của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hôm nay là giữ vị thế độc tôn của đảng bằng bất cứ giá nào. Mục tiêu tối hậu không phải là ích quốc lợi dân, nhưng là quyền và lợi của những người đang nắm giữ chức vụ ở mọi cấp. Đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thối nát, bất công của cái xã hội chúng ta đang sống hôm nay.
Trong bài viết mang tựa đề : Lạy Chúa con nghe đây của Phạm Minh Tâm (Diễn đàn Giáo Dân tháng 12 năm 2009), trong một đoạn văn không dài lắm, tác giả đã đưa ra một bức tranh u ám nhưng xác thực về đất nước, về hoàn cảnh sống của người Việt Nam hôm nay :
Đạo đức xã hội ngày càng băng hoại với việc phá thai nằm trong chính sách ; tuyệt đại đa số dân nghèo bị bỏ mặc bên ngoài hệ thống y tế công cộng ; hàng trăm ngàn trẻ em bị đem đi xuất cảng cho thị trường ấu dâm ở các nước lân cận ; cũng hàng trăm ngàn cô gái bị bán đi làm một thứ nửa vợ hờ nửa mại dâm cho những người có tiền ở khắp nơi trên thế giới ; biết bao nhiêu thanh niên thiếu nữ bị các văn phòng dịch vụ làm môi giới buôn sức lao động của họ như thời xa xưa buôn bán nô lệ qua sự khuyến khích của Sở Thương binh Xã hội là nên đi lao động nước ngoài để cải thiện đời sống, và đã bị ngược đãi đến bỏ mạng ở xứ người ; rồi đất đai của cha ông bị cắt dâng ngoại bang như vụ việc thác Bản Giốc, suối Phi Khanh, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ; tệ hại hơn nữa là việc khai thác bauxite độc hại làm di luỵ đến khối dân vốn đã và đang bị ô nhiễm môi sinh trầm trọng v.v…
Cũng liên quan đến thân phận Việt Nam hôm nay, từ hải ngoại, nhà thơ Trần Trung Đạo ngậm ngùi :
“Dải đất Việt Nam
Nằm co ro như một kẻ ăn mày
Đang thoi thóp cuộc đời trên góc phố,
Như giọt lệ chảy dài nhưng chưa nhỏ,
Như chiếc lưng khòm Mẹ gánh cả đời thương.”
Còn ở trong nước thì cũng một nhà thơ, Trần Mạnh Hảo, đã kêu lên thống thiết :
“Có nơi đâu trên thế giới này
Như Việt Nam hôm nay
Yêu nước là tội ác
Biểu tình chống ngoại xâm bị ‘Nhà Nước’ bắt ?
Các anh hùng dân tộc ơi !
Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo ơi !
Nếu sống lại, các Ngài sẽ bị bắt !
Ai cho phép các Ngài đánh giặc phương Bắc ?”
Có thực sự đồng hành ?
Chỉ cần nhìn lại những biến cố xảy ra trong những năm gần đây, ta phải đặt câu hỏi : Có thực sự Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đang đồng hành với dân tộc, có thực sự người tín hữu Công Giáo Việt Nam đang sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc hay không ? Đặc biệt trong suốt năm 2007, khi phong trào dân oan đi đòi công lý rộ lên từ bắc chí nam, từ nông thôn đến thành thị, Giáo Hội Công Giáo làm thinh. Khi nổi lên vụ khai thác bauxite, các nhà trí thức công khai bày tỏ ý kiến, yêu cầu Nhà Nước ngưng triển khai dự án, Giáo Hội Công Giáo làm thinh. Khi những người mạnh dạn tố cáo tham nhũng, khi các nhà đấu tranh cho tự do dân chủ lần lượt theo nhau vào tù, Giáo Hội Công Giáo làm thinh. Khi đi biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, nhiều học sinh, sinh viên hay thường dân bị bắt, bị bỏ tù, Giáo Hội Công Giáo làm thinh. Thế thì câu hỏi đặt ra là trong những hoàn cảnh bức thiết đến như vậy, bi đát đến như vậy, trong khi những cá nhân, bất chấp bao phiền toái cho bản thân, bất chấp hiểm nguy cho tính mạng, dám can đảm đi đòi công lý, dám hiên ngang bày tỏ lập trường, mạnh mẽ nói lên lòng yêu nước, một niềm gắn bó với tiền đồ dân tộc, thì Giáo Hội Công Giáo, bắt đầu từ những người lãnh đạo, xem như chẳng có chi liên quan đến mình để mình phải bận tâm. Trong hoàn cảnh đó, làm sao chứng minh cho mọi người rằng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chúng ta đang sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc, đang đồng hành với dân tộc hôm nay ?
Đã thấy cánh én, chưa thấy mùa xuân
Mấy tháng sau khi được tấn phong giám mục, Đức Cha Phê-rô Nguyễn Văn Khảm có viết bài mang tựa đề Quan điểm Công Giáo về trách nhiệm của Giáo Hội trước các vấn đề xã hội đăng tải trên Vietcatholic, ngày 05-05-2009. Trong bài đó Đức Cha đã dựa vào học thuyết xã hội của Giáo Hội và viết : Các vấn đề chính trị và xã hội liên quan đến khía cạnh đạo đức là trách nhiệm đặc thù của Giáo Hội, chẳng hạn chiến tranh, tham nhũng, phá thai, gian dối… Chỉ ba ngày sau, trong bài Cánh én báo hiệu mùa xuân ?, cũng đăng tải trên Vietcatholic, ngày 08-05-2009, tôi đã đặt nghi vấn như vừa nêu. Bài viết của Đức Cha Khảm đã làm loé lên một tia hy vọng nơi người đọc. Nhưng sau bài đó, mọi sự lại “vũ như cẩn”, kể cả lúc xảy ra vụ Tam Toà đầy sóng gió. Có vẻ như các giám mục của chúng ta gặp nhau tại Rô-ma nhân chuyến đi ad limina đã dặn dò nhau luôn “đi theo lề phải”, nên mới xảy ra chuyện lạ đời là trong khi ở trong nước cũng như hải ngoại, người người bày tỏ tình hiệp thông với Tam Toà, các giám mục Việt Nam không hề có một vị nào hé răng mở miệng. Thì ra cánh én đã có đó, nhưng mùa xuân thì chưa.
Sám hối vì chưa đồng hành
Chung quanh đề tài Đồng hành với Dân Tộc, có một việc đáng được lưu ý dịp khai mạc Năm Thánh vừa qua tại Sở Kiện, Hà Nội, là trong nghi thức sám hối đêm diễn nguyện 23-11-2009, nội dung của hồi III, xin lỗi xã hội là như thế này :
Thưa bà con anh em lương dân không cùng tôn giáo.
Đức Giêsu Đấng sáng lập đạo công giáo đã dạy chúng tôi yêu thương mọi người, kể cả kẻ thù. Lẽ ra chúng tôi phải thực hiện tinh thần đó mọi nơi mọi lúc và với mọi người. Nhưng chúng tôi nhận thấy do vô tình hay cố ý, chúng tôi đã làm cho quý vị phiền lòng, chúng tôi đã thiếu sót nhiều trong nghĩa vụ yêu thương.
Chiều hôm nay, toàn thể Giáo Hội Công Giáo muốn nói lời xin lỗi về tất cả những điều ấy, với tất cả mọi người không phân biệt chính kiến, vị trí và tín ngưỡng tâm linh.
Chúng tôi xin lỗi mọi thành phần xã hội, tôn giáo, vì chúng tôi đã chưa đủ hòa mình và đồng hành.
Chúng tôi xin lỗi người nghèo, người hẩm hiu xấu số, người khuyết tật, đau khổ vì chúng tôi chưa đủ quan tâm.
(Vũ viên chỗi dậy làm cử điệu theo điệp khúc…)
GIÁO HỘI CHÚNG CON XIN CHÂN THÀNH THÚ TỘI.
GIÁO HỘI CHÚNG CON XIN CÚI ĐẦU TẠ TỘI.
Không người tín hữu Công Giáo nào nghe những lời này mà không muốn chảy nước mắt, vì có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Giáo Hội Công Giáo công khai nhận lỗi trong một cuộc lễ long trọng, vĩ đại, đầy ý nghĩa như thế này. Mong sao không chỉ có sám hối, nhưng còn phải thực sự dốc lòng chừa, và cụ thể hoá lòng sám hối ăn năn.
Trở về với nguồn cội
“Dấu chỉ thời đại” mới nhất (theo kiểu nói của Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII) cho Giáo Hội Việt Nam tiếp theo sau đại lễ khai mạc Năm Thánh tại Sở Kiện, Hà Nội, có lẽ đó là việc Đại hội Giới Trẻ Tổng giáo phận Hà Nội năm nay được giáo phận Hưng Hoá đăng cai tổ chức, lại diễn ra ngay tại trung tâm lễ hội Đền Hùng ở Phú Thọ, vốn được xem như cái nôi, như nguồn cội của dân tộc Việt Nam kể từ thời dựng nước Văn Lang. Nghe đâu giáo phận Hưng Hoá đã ký hợp đồng với thành phố Việt Trì thuê sân vận động thành phố làm nơi tập trung, nhưng vào phút chót chính quyền lại yêu cầu dời địa điểm. Vì lý do gì thì không ai rõ, nhưng bản thân tôi thì tin là Thiên Chúa quan phòng đã muốn cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam ít là một lần được đến nơi tổ tiên của mình là các Vua Hùng dựng nước, vừa để công khai diễn tả niềm tin của mình, vừa để long trọng nói lên lòng gắn bó của mình với dân tộc, với quê hương đất nước. Đây là lần đầu tiên, hy vọng không phải là lần cuối cùng.
Kết luận
Nhân chuyến đi ad limina vừa rồi, ngày 23-06-2009, tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phao-lô ngoại thành, trước một cử toạ đông đảo, với sự hiện diện của tất cả các giám mục Việt Nam, Đức Cha Phao-lô Bùi Văn Đọc đã long trọng tuyên bố : “Sứ vụ chính yếu của chúng tôi hôm nay là sứ vụ loan báo Tin Mừng”. Trong số 85 triệu người Việt Nam hôm nay, người Công Giáo chưa tới 7 triệu, chiếm một tỉ lệ khá khiêm tốn. Và nếu sứ vụ chính yếu của Giáo Hội Công Giáo là “loan báo Tin Mừng”, thì cánh đồng truyền giáo thật bát ngát bao la. Nếu để đem Tin Mừng cứu độ đến cho loài người, Ngôi Hai Thiên Chúa đã chấp nhận chia sẻ kiếp người với chúng ta, từ đó, thánh Phao-lô đã muốn là Do-thái với người Do-thái, Hy-lạp với người Hy-lạp, các vị thừa sai đã chấp nhận lìa quê hương và gia đình đến với đất nước chúng ta, thì hôm nay đến lượt chúng ta, để hoàn thành sứ vụ loan báo Tin Mừng cho đồng bào ta, ta không thể có một lựa chọn nào đúng đắn hơn đường lối Thư Chung 1980 đã vạch ra, đó là “Đồng hành với Dân Tộc” hay “Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc”. Dựa vào phương châm, vào đường lối đã được đề ra cách đây 30 năm để rồi lượng giá và rút tỉa kinh nghiệm là việc làm không thể thiếu để có được những bước đi bền vững trên cánh đồng truyền giáo ngay giữa lòng Dân Tộc hôm nay.
LÊN NÚI NHẶT THỊT CHÚA
Có đáng ngạc nhiên ?
Câu chuyện thời sự khiến mọi tín hữu Công Giáo Việt Nam quan tâm lúc này, là những gì mới xảy ra tại giáo xứ Đồng Chiêm trong những ngày qua. Đọc các bài viết trên mạng Vietcatholic, tôi thấy nhiều người tỏ vẻ ngạc nhiên : Làm sao sau cuộc viếng thăm Vatican của Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, cùng với bao lời lẽ tốt đẹp trao đổi với Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI, lại có thể có một vụ việc tồi tệ và trầm trọng như thế này được ? Trước cuộc viếng thăm này, có người đã tỏ vẻ lạc quan. Thậm chí có giám mục đã nói đến một cuộc viếng thăm khả dĩ của Đức Giáo Hoàng đến Việt Nam sau cuộc viếng thăm Vatican của Chủ tịch Nước ! Rồi còn nói đến khả năng các Giáo Hội anh chị giúp đỡ về mặt tài chánh để có thể đón Đức Giáo Hoàng !
Bản thân tôi chẳng kỳ vọng gì trước chuyến đi của Chủ tịch Nước, cũng không ngạc nhiên trước những sự việc mới xảy ra. Các quan chức cộng sản có thể có những vai diễn khác nhau, nhưng đạo diễn duy nhất vẫn là đảng cộng sản. Tôi nhớ có đọc ở đâu đó lời một chính trị gia, ông Âu Dương Thệ, đại khái như thế này : Nhìn từ bên ngoài, ta có thể đoán : trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam, có phe thân Tàu, có phe thân Mỹ, nhưng kỳ thực, chỉ có những phe thân nhau mà thôi. Thành ra bắt tay Đức Giáo Hoàng, hay là triệt hạ Cây Thánh Giá, chỉ là những màn khác nhau của cùng một vở tuồng. Cộng sản Việt Nam với tôn giáo, ở đây chính xác là Công Giáo : Chiến thuật thay đổi tuỳ thời điểm, nhưng chiến lược thì không.
Tại sao lúc này ?
Ngược dòng thời gian thì cách đây chưa lâu, thửa đất non hai chục mẫu của thánh địa La Vang mới được trả lại. Toà Tổng Giám Mục Huế đang khẩn trương lên phương án xây một trung tâm hành hương với kinh phí 25 triệu Mỹ Kim. Nhìn từ phía Nhà Nước thì đây không phải là đất “trả lại” nhưng là đất “cấp cho theo yêu cầu” dựa trên nguyên tắc “đất đai là của toàn dân do Nhà Nước quản lý” ! Trước nữa là đất xây trung tâm mục vụ Đà Lạt. Nghe đâu xin ba mẫu, cho đến tám chín mẫu gì đó. Làm sao ăn của chùa mà không phải ngọng miệng ! Nhưng qua các vụ việc xảy ra liên quan đến đất đai, trong đó có đất của Công Giáo, chính quyền cộng sản Việt Nam muốn cho thấy rằng : Cho đất xây trung tâm mục vụ hay trung tâm hành hương là ta, biến đất Toà Khâm Sứ hay Thái Hà thành công viên chính là ta, không trả đất Giáo Hoàng Học Viện cũng là ta, thì nay đập Thánh Giá trên đất Đồng Chiêm vẫn là ta.
Nét đặc thù của vụ Đồng Chiêm
Các vụ Toà Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Toà, Loan Lý… và nay là Đồng Chiêm, đều có một mẫu số chung, đó là đất. Thế nhưng vụ Đồng Chiêm thì không chỉ liên quan đến đất mà thôi. Giả sử chính quyền Hà Nội ra lệnh cho nhà thờ Đồng Chiêm hay Toà Tổng Giám Mục di dời Cây Thánh Giá, mà lệnh đó không được thực hiện thì khác, đàng này, giữa đêm hôm khuya khoắt, điều động cả đến non ngàn dân quân với chó nghiệp vụ và đủ loại vũ khí, rồi dùng hoá chất để cho nổ tung Cây Thánh Giá, thì điều không thể nghi ngờ là chính quyền Hà Nội, với thái độ ngạo mạn của người muốn biểu dương quyền lực, đã cố tình công khai xúc phạm biểu tượng thiêng liêng của Ki-tô giáo.
Phản ứng từ phía Công Giáo
Khác với vụ Tam Toà, lần này thì đã có nhiều dấu hiệu hiệp thông của giới Công Giáo ở trong nước cũng như hải ngoại, đặc biệt từ phía các giám mục. Vị đầu tiên lên tiếng là đức cha Đặng Đức Ngân, giám mục giáo phận Lạng Sơn, rồi sau đó là tất cả các giám mục thuộc giáo tỉnh Hà Nội. Giáo tỉnh miền Trung thì có giám mục Kontum, đức cha Hoàng Đức Oanh. Các giám mục khác thì có vẻ theo nguyên tắc : chuyện địa phương nào thì địa phương đó lo, cho dù như đã nói ở trên, chuyện Đồng Chiêm không đơn thuần chỉ là chuyện đất. Và chắc cũng vì biết trước là sẽ không có một lập trường chung trong giới lãnh đạo Công Giáo Việt Nam, nên chính quyền mới không sợ mạnh tay như mọi người đã thấy. Cũng may mà ngay ngày sự việc xảy ra, từ Toà Tổng Giám Mục trở về sau buổi tĩnh tâm, 40 linh mục Hà Nội đã tới Đồng Chiêm dâng thánh lễ đồng tế, trong thánh lễ đó, cha Phạm Minh Triệu đã có một bài chia sẻ tuyệt vời, vừa cho thấy lòng tin bất khuất, vừa chứng tỏ một thái độ bao dung của người môn đệ Chúa Ki-tô, lại vừa bày tỏ lòng yêu nước sâu xa trước hiểm hoạ xâm lăng của Trung Quốc.
Nhưng điều không thể không nói tới ở đây chính là những đóng góp vô cùng to lớn của anh em linh mục tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế. Không chỉ chờ đến khi vụ việc lan đến Thái Hà là nơi anh em có trách nhiệm mục vụ, nhưng ngay từ lúc xảy ra vụ Toà Khâm Sứ, rồi đến lúc vụ việc lan tới Tam Toà, và cuối cùng là Đồng Chiêm, anh em luôn ở tuyến đầu để cung cấp thông tin và hình ảnh, nhờ đó, bất kỳ ở đâu trên thế giới, người tín hữu Công Giáo Việt Nam cũng có thể hiệp thông. Và trong hết mọi lời tuyên bố, không có lời nào vừa đầy đủ, vừa mạnh mẽ như lời cha Nguyễn Văn Khải, đại diện cho cộng đồng tu sĩ và giáo dân Thái Hà : “Hiệp thông trong đức tin và đức mến của những người con cái Chúa và trong tư cách là những người đã chịu chung thân phận bị bách hại, Giáo xứ Thái Hà-DCCT Hà Nội cực lực phản đối và lên án hành vi báng bổ tôn giáo cách điên cuồng của nhà cầm quyền thành phố Hà Nội”.
Trước việc “hai nạn nhân bị công an đánh trọng thương và họ đã dùng bạo lực đưa 2 nạn nhân này đến bệnh viện Hà Nội, cho các bác sĩ ở đây khám qua quýt các vết thương rồi bỏ lơ các nạn nhân ở đấy cho đến chiều ngày mùng 6/1/2010, thì đẩy các nạn nhân ra khỏi bệnh viện đang khi tính mạng nguy kịch,” Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội “cực lực phản đối và lên án hành vi sử dụng bạo lực của nhà cầm quyền để khủng bố và gây thương tích cho các giáo dân giáo xứ Đồng Chiêm” và “lên án hành vi vô nhân đạo của nhà cầm quyền khi không dành cho những người bị thương sự cứu chữa cần thiết và đúng mức và lại còn đẩy họ ra khỏi bệnh viện trong tình trạng tính mạng nguy kịch.” Giá mà lời tuyên bố hùng hồn đó không phải chỉ đến từ một xứ đạo, nhưng là từ cả Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, đứng đầu là Hội Đồng Giám Mục, thì trọng lượng của lời tuyên bố đó sẽ được nhân lên gấp trăm, gặp vạn lần. Và ai cũng hiểu được nỗi bức xúc của anh J.B. Nguyễn Hữu Vinh, tác giả bài “Thánh Giá Đồng Chiêm : Cơn thử thách khắc nghiệt của tín hữu Ki-tô” đăng tải trên Vietcatholic ngày 8.1.2010 khi anh viết : “Nếu không có sự hiệp thông trong toàn Giáo Hội Công Giáo khi Thánh Giá bị xúc phạm đập phá ngang nhiên và trắng trợn, thì khi đó có nghĩa là đã có một sự ‘Mầu nhiệm’ xảy ra. Đó là sự ‘mầu nhiệm’ về những ‘thành công’ của chính quyền cộng sản Việt Nam đối với Giáo Hội Công Giáo.”
Kết luận
Trong bài viết mang tựa đề “Đồng Chiêm ơi ! Về rồi ta thấy gì ?” đăng tải trên trang Vietcatholic ngày 8.1.2010, tác giả Joseph Nguyễn Văn Thống ghi lại mẩu chuyện sau đây : “Các em thiếu nhi lũ lượt kéo nhau lên Núi Thờ… ngọn núi ấy quả là cheo leo và hiểm trở, vậy mà các em đã không ngại khó để lên được nơi chính điểm đã chôn Cây Thánh Giá. Khi được hỏi các em leo lên núi làm gì vậy ? Các em trả lời ngay, và trên tay cầm một hòn đá : ‘Chúng em lên nhặt thịt Chúa’. Thịt Chúa của các em đây chính là những miếng đá bê tông đã làm nên Cây Thánh Giá, và Thánh Giá này đã bị cộng sản Việt Nam đập vỡ ra từng miếng nhỏ và giờ đây các em đây đi tìm.” Đọc xong câu chuyện cảm động này, tôi chợt nghĩ : các em đích thực là con cháu các thánh Tử Đạo Việt Nam, và tuy không mặc áo dòng, các em đích thực là những Ki-tô hữu mến Thánh Giá. Tôi nhớ trong cuốn Hồi Ký của Đức Cha Lê Đắc Trọng, khi đề cập đến chuyện đức tin thì phải, ngài nói giáo dân thì hơn linh mục, linh mục hơn giám mục. Tôi là linh mục, tôi không nghĩ linh mục chúng tôi hơn các giám mục đâu, nhưng đối với tôi, giáo dân hơn linh mục là điều chắc chắn. Và những em nhỏ như em đang nói ở đây, những tín hữu đã đương đầu với bao khó khăn thử thách, bất chấp tù đày, bất chấp cả hiểm nguy cho tính mạng như chúng ta đã thấy qua các vụ Toà Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Toà… và nay là Đồng Chiêm, đích thực là những bậc thầy, những tấm gương trong đời sống đức tin cho hết mọi Ki-tô hữu, đặc biệt trên quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta. Và đó cũng là niềm hy vọng cho bất cứ người Việt Nam nào đang mong chờ một đất nước tự do, một tương lai tươi sáng cho Dân Tộc.
GIÁO DÂN HƠN LINH MỤC
Tin anh J.B. Nguyễn Hữu Vinh bị đánh gãy răng suýt chết không làm tôi ngạc nhiên. Tuy là người cùng quê Nghệ Tĩnh, nhưng chúng tôi chỉ mới biết nhau, rồi quen nhau, thân nhau từ các biến cố Toà Khâm Sứ, Thái Hà. Anh thuộc những cây viết có hạng của các báo điện tử Công Giáo, lại ký tên đầy đủ, không giấu giếm. Vậy thì chuyện anh bị theo dõi, rình rập, và nay thì bị cướp máy ảnh, bị đánh trọng thương, giữa thanh thiên bạch nhật, mà những người đánh lại là những nhân viên công lực, mặc sắc phục đàng hoàng, thì ở trên nước Việt Nam cộng sản này, không phải là chuyện lạ. Có lạ chăng là đến giờ này mới xảy ra.
Giá mà anh Vinh, một kỹ sư xây dựng, cứ chu chí làm ăn, thì giữa đất Thủ đô Hà Nội, đâu thiếu cơ hội cho anh thành công một cách lương thiện. Thế nhưng anh đã “lỡ dại” chui vào hàng ngũ những tín hữu Chúa Ki-tô, và bằng ngòi bút sắc bén của mình, đấu tranh cho công lý và sự thật, để mang hoạ cho bản thân, cho gia đình. Anh không ở tuổi bồng bột, nhẹ dạ, để làm những chuyện không suy nghĩ chín chắn. Có điều anh đã “lỡ” theo Chúa Giê-su, trên bước đường thập giá, mà các Thánh Tử Đạo, tổ tiên của anh, của chúng ta trong đức tin, đã từng theo trước đó, và chỉ mới đây thôi, những câu chuyện tin Chúa, theo Chúa, rồi chết vì Chúa, mới được long trọng nhắc lại tại Sở Kiện. Anh theo Chúa Giê-su, không phải như các ông kinh sư, với bao pho sách thông thái, với những kiến thức đầy mình, mở miệng ra là vi vu bao nhiêu lời đẹp đẽ. Anh cũng không so đo tính toán kiểu thực dụng, không dùng những lời hoa mỹ để biện minh cho thái độ hèn nhát của mình. Nhưng anh theo Chúa với cả khối óc, với cả con tim, với ngòi bút của người suy nghĩ từ những chuyện tai nghe mắt thấy, rồi ghi lại, rồi viết ra, với mục đích duy nhất là làm chứng cho Tin Mừng. Và anh làm những chuyện đó ngay trên quê hương đất nước của anh, của chúng ta, trên đất nước Việt Nam mang danh xã hội chủ nghĩa. Và thế là chuyện phải xảy ra đã xảy ra.
Tôi ghi vội những lời này như những lời thăm hỏi gửi đến người bạn tôi hết lòng quý mến, với lời cầu chúc anh sớm bình phục để lại tiếp tục viết, bao lâu Chúa còn cho anh hơi thở. Xin được gửi đến anh lòng thương mến và cảm phục sâu xa của tôi. Hơn bao giờ hết, tôi tâm đắc lời đức cha Lê Đắc Trọng : giáo dân thì hơn linh mục. Và giáo dân cỡ như anh, nếu không sợ hỗn, tôi sẽ nói : hơn cả giám mục nữa.
ĐỌC
“LÊN TIẾNG HAY KHÔNG LÊN TIẾNG”
Non một tuần sau vụ Đồng Chiêm, nay ta đã có bài “Lên tiếng hay không lên tiếng” đề ngày 13-01-2010 của Ban Biên Tập WHĐ trên trang mạng của HĐGM/VN. Như thế là sau non một tuần chờ đợi, sau khi “trang điện tử của HĐGM/VN nhận được nhiều thư góp ý và một thắc mắc thường được nêu lên là : tại sao HĐGM không lên tiếng ?”, ta đã có được câu trả lời. Người viết bài này không có cao vọng làm một bài phân tích tỉ mỉ văn thư nói trên, mà chỉ xin đưa ra mấy nhận xét.
Tiêu chí Hiệp thông
Ông bà ta vẫn nói “máu chảy ruột mềm”. Trước những biến cố đau thương đã xảy đến qua các vụ Toà Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Toà… và nay là Đồng Chiêm, việc đầu tiên mọi người chờ đợi là sự hiệp thông, là lời cầu nguyện. Ở đây, chỉ nói đến riêng chuyện Đồng Chiêm. Tất cả các giám mục giáo tỉnh Hà Nội, với một giám mục giáo tỉnh Huế, đã có thư hiệp thông. Các giám mục khác thì không. Tiêu chí của Năm Thánh 2010, cũng như mầu nhiệm hiệp thông trong Hội Thánh, dừng lại nơi lằn ranh địa lý. Một câu nói, một lá thư, đâu tốn kém gì mà phải để cho người người thắc mắc. Sao có thể chấp nhận thái độ lạnh lùng cách dễ dàng như thế được !
Đất địa phương nào, địa phương đó lo
Dựa theo bài “Lên tiếng hay không lên tiếng”, có vẻ như nguyên tắc đề ra là : chuyện địa phương nào, địa phương đó lo. Tại sao chấp nhận để cho Nhà Nước “bẻ đũa từng chiếc” mà không có được một tiếng nói chung, khi tất cả mọi địa phương đều có chung vấn đề đất ? Tại các nước khác, các HĐGM có Uỷ Ban Công Lý Hoà Bình để có thể trợ giúp HĐGM, mà ở Việt Nam thì không. Nếu HĐGM chưa bao giờ đặt vấn đề thì đừng đổ lỗi cho Nhà Nước. Còn nếu Nhà Nước không chấp nhận thì cũng nên nói cho bàn dân thiên hạ biết để khỏi thắc mắc và phiền trách các giám mục. Để biện minh cho sự thinh lặng của các giám mục, bản Lên tiếng có nhắc đến bản “Quan điểm…” công bố ngày 27.9.2008. Nhưng đâu phải chỉ cần ra một văn bản với vài ba trang giấy là giải quyết được vấn đề.
Không chỉ là chuyện đất
Bản “Lên tiếng” cũng như bản “Quan điểm” đều nhấn mạnh đến đất, trong khi ngay từ đầu, người khởi xướng phong trào cầu nguyện để đòi đất, là Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, đã minh định : mục tiêu nhắm tới là công lý hoà bình, mục tiêu này đã được nhắc lại trong các buổi cầu nguyện khắp nơi. Vậy thì đất nhà thờ, đất tôn giáo chỉ là khởi điểm cho một mục tiêu cao hơn, rộng hơn, vượt xa khỏi ranh giới những mảnh đất nhà thờ.
Nét đặc thù của vụ Đồng Chiêm
Có vẻ như bản “Lên tiếng” cố tình không đề cập đến nét đặc thù của vụ Đồng Chiêm là : Cây Thánh Giá bị đập phá, biểu tượng thiêng liêng nhất của Ki-tô giáo bị xúc phạm trầm trọng. Đây quả là một chuyện động trời, khiến bất cứ Ki-tô hữu nào cũng sững sờ và đau xót, nhưng lại chỉ có các giám mục giáo tỉnh miền bắc với một giám mục giáo tỉnh miền trung lên tiếng. Còn tất cả các vị khác thì hoàn toàn lặng thinh. Đây mới là điều gây thắc mắc và bất bình cho mọi Kitô hữu. Khi đánh vào Thánh Giá Đồng Chiêm, chính quyền cộng sản Việt Nam đã muốn làm một phép thử nhằm đo sức mạnh của khối Công Giáo Việt Nam. Và nay thấy thái độ của các giám mục trong vụ việc này, chính quyền có thể kết luận rằng nếu không hẳn là một con cọp giấy, thì Công Giáo Việt Nam cũng chỉ là một con cọp con chưa đến tuổi mọc răng.
Đất là của toàn dân, tôn giáo cần thì phải xin
Những thửa đất tranh chấp, đất tư nhân hay đất tôn giáo, thường là đất sở hữu cách hợp pháp trước khi có cộng sản tại Việt Nam. Dưới chế độ cộng sản, trên nguyên tắc, theo Hiến pháp, đất đai thuộc về toàn dân, cá nhân cũng như bất cứ một tổ chức nào, chẳng hạn tôn giáo, có nhu cầu thì phải xin. Nhưng đã nói chuyện “đi xin” thì được hay không tuỳ ở người cho, và đây là mấu chốt của vấn đề. Nhưng làm sao tìm được một giải pháp căn cơ cho vấn đề ? Vào năm 2002, tiếp theo sau Hội nghị thường niên, HĐGM/VN đã đưa ra một Thư ngỏ gửi các cơ quan lập pháp của Nhà Nước Việt Nam (xem tài liệu đính kèm), trong đó các giám mục phản bác cơ chế xin-cho của chế độ cộng sản hiện nay.
Đứa con vô thừa nhận
Lẽ ra văn kiện này phải là niềm vinh dự cho Giáo Hội Việt Nam, vì là một đóng góp có ý nghĩa cho Dân tộc, như chìa khoá để giải quyết tận gốc bao nhiêu vấn đề xã hội. Nhưng đây lại không phải là giải pháp được Nhà Nước độc tài chấp nhận. Và chắc cũng vì thế mà trong những năm gần đây, hầu hết các giám mục không buồn nhắc đến văn kiện này nữa. Có vào trang mạng của HĐGM/VN để tìm cũng không thấy. Và thế là Thư ngỏ 2002 một thời nổi đình nổi đám, nay thành ”đứa con vô thừa nhận”.
Giải pháp cho mọi vấn đề
Đến đây ta dễ dàng nhận ra giải pháp cho mọi vấn đề. Tự do tôn giáo không thể là một cái gì riêng lẻ. Phải có tự do cho hết mọi người thì mới có tự do tôn giáo. Khi linh mục Nguyễn Văn Lý nói : “Tự do hay là chết”, thì nhiều người trề môi bảo ngài làm chính trị. Nhưng nay nhìn lại, đã đến lúc ta phải khiêm tốn nhận rằng Nguyễn Văn Lý là người đã tìm được chìa khoá cho mọi vấn đề cốt lõi liên quan đến sự sống còn của Dân Tộc Việt Nam hôm nay. Người viết bài này không hề muốn “làm chính trị”, mà chỉ ghi lại suy nghĩ của mình từ những vấn đề thời sự.
Kết luận
“Chia để trị” hay “bẻ đũa từng chiếc” là sách lược của mọi chế độ độc tài. Khi chủ trương “chuyện địa phương nào, địa phương đó lo”, HĐGM/VN đã sa vào bẫy. Và trong hoàn cảnh đó mà mong đối thoại, là tự ru ngủ mình. Làm sao đối thoại khi ở vào thế yếu, khi bị coi thường, thay vì được kính nể ! Nếu nhìn rộng ra hơn, ta phải công nhận rằng : mọi vấn đề liên quan đến tôn giáo chỉ có thể có được một giải pháp căn cơ, nếu các tôn giáo biết cùng nhau ngồi lại. Cuối cùng thì những người có tôn giáo cũng sẽ chỉ thành công, nếu có sự hỗ trợ từ phía nhân dân, nghĩa là nếu các tôn giáo có được tiếng nói chung với cả cộng đồng dân tộc. Từ đó chúng ta khám phá ra rằng : phương châm “Đồng hành với Dân Tộc” hay “Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc” (xem tài liệu đính kèm) đích thực là chiếc đũa thần cho mọi giải pháp. Với điều kiện : đó không chỉ là một nguyên tắc trừu tượng, một chủ trương trên giấy, nhưng đích thực là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của người Công Giáo Việt Nam. Bao lâu vì chăm chú “lo chuyện đạo” mà chúng ta lạnh lùng với các tôn giáo bạn, xa rời quần chúng nhất là đại đa số dân nghèo, hững hờ với vận mạng Dân Tộc, thì Đồng Chiêm chưa phải là điểm dừng.
CHỈ CẦN “NẮM” CÁC GIÁM MỤC THÔI
Từ chức “vì lý do sức khoẻ”
Nghe tin Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt xin từ chức Tổng Giám Mục Hà Hội “vì lý do sức khoẻ”, ai cũng phải ngạc nhiên. Xem đoạn băng vidéo cách đây chỉ mới hơn một năm, chính xác là ngày 21-09-2008, nghe giọng nói sang sảng của ngài khi phát biểu tại trụ sở UBND Tp. Hà Nội, nhìn gương mặt rắn rỏi, phong thái tự tin, ta thấy đó là một con người đầy tràn sức sống. Một thời gian sau, càng ngày người ta càng thấy ngài ít xuất hiện, rồi ngài phải thường xuyên đi nghỉ dưỡng vì bệnh mất ngủ triền miên, từ đó sức khoẻ của ngài sa sút trầm trọng. Giữa hai quãng thời gian này là hội nghị các giám mục tại Xuân Lộc. Tại hội nghị này, HĐGM/VN đã nhận được văn thư ông Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBND Tp. Hà Nội đề ngày 23-09-2008, trong đó ông yêu câu HĐGM/VN “xem xét, xử lý và đề nghị xử lý nghiêm minh theo quy định của Giáo Hội đối với Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt… đồng thời yêu cầu thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo… ra khỏi Giáo phận Hà Nội”. Sau đó, trong văn thư đề ngày 25-09-2008, Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGM/VN đã trả lời ông Nguyễn Thế Thảo là : “Sau khi xem xét, chúng tôi thấy các vị này (trong đó có Đức Tổng Giám Mục Hà Nội) không làm bất cứ điều gì ngược lại giáo luật hiện hành của Giáo Hội Công Giáo”. Cùng với lá thư này là bản “Quan điểm của HĐGM/VN về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện nay”. Đọc các tài liệu này, rồi nhìn lại các sự việc xảy ra từ các vụ Toà Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Toà, Loan Lý, và mới đây là Đồng Chiêm, lại đọc bài “Lên tiếng hay không lên tiếng” của Ban Biên Tập WHĐ trên trang mạng của HĐGM/VN, ta dễ dàng nhận ra sự lẻ loi đơn độc của Đức Tổng Giám Mục Hà Nội trong tập thể các giám mục Việt Nam. Vị giám mục duy nhất công khai và mạnh mẽ bày tỏ sự đồng tình với Đức Tổng Kiệt ngay những ngày đầu tiên của vụ Thái Hà là giám mục giáo phận Vinh, Đức Cha Phao-lô Cao Đình Thuyên. Từ các nhận định trên, việc Đức Tổng Kiệt suốt những đêm dài triền miên không sao chợp mắt, dẫn đến tình trạng sức khoẻ sa sút trầm trọng, không còn phải là chuyện khó hiểu. Trong những điều kiện như thế, cảm thấy không còn đủ sức khoẻ để chu toàn một nhiệm vụ muôn phần khó khăn trong hoàn cảnh cực kỳ phức tạp hiện nay, Đức Tổng Kiệt đã không thấy có giải pháp nào tốt hơn là xin từ chức. Do đó, việc xin từ chức chỉ là cái ngọn của vấn đề.
Chúng tôi sẽ không giết ông đâu !
Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến một mẩu chuyện đã được nghe ít lâu sau khi Đức Cha (hồi đó còn là Đức Cha) Nguyễn Văn Thuận bị buộc phải rời Hà Nội để đi sống lưu vong bên Rô-ma. Một linh mục thân tín của ngài kể lại cho tôi rằng : trong một lần “làm việc” với người đứng đầu cục An ninh, viên chức này đã nói với tù nhân Nguyễn Văn Thuận : “Chúng tôi sẽ không giết ông đâu ! Chúng tôi chỉ cần để cho giám mục các ông giết nhau thôi.” Chiến thuật này thành công tới mức nào thì không ai rõ, vì làm sao ta có được một bản báo cáo hay thống kê chính thức. Nhưng mức độ thâm hiểm thì phải công nhận là siêu đẳng. Các con cái Chúa, chẳng biết có khôn được như rắn hay không, nhưng vốn đơn sơ (hay ngây thơ) như bồ câu, dễ gì lường trước được mọi thứ mưu ma chước quỷ để đề phòng !
Chỉ cần “nắm” các giám mục thôi
Tôi cũng được nghe kể chuyện một linh mục Việt Nam ở Mỹ, vì muốn có cơ hội thỉnh thoảng về Việt Nam, nên giữ mồm giữ miệng rất kỹ, tránh không tham gia các tổ chức “phản động”, tránh những nơi xuất hiện cờ vàng ba sọc đỏ để khỏi bị ghi hình. Khi trở về Việt Nam thăm gia đình tại một giáo xứ miền Lâm Đồng, cũng như mọi Việt kiều khác, cha được một anh công an đến “hỏi thăm sức khoẻ”. Khi được hỏi về tình hình chống cộng của người Việt tại nơi cha ở, cha trả lời cách đơn sơ là không biết, vì thật sự cha không hề tham gia vào một tổ chức, một sinh hoạt chính trị nào. Anh công an tỏ vẻ hoài nghi, liền nói để dằn mặt : “Anh có khai hay không khai, tôi cũng chẳng cần. Nhưng tôi nói cho anh biết : các anh bên Tây bên Mỹ cứ tha hồ mà chống cộng. Chúng tôi ở đây chỉ cần ‘nắm’ các giám mục là đủ rồi !” Thú thật nghe chuyện này xong, mắt tôi sáng ra, và tôi hiểu được nhiều “mầu nhiệm”. Thì ra để đối phó với các tôn giáo (ở đây là Công Giáo), chính quyền cộng sản Việt Nam không phải chỉ có những mẹo vặt, những cách ứng phó đột xuất, nhất thời. Nhưng rõ ràng là đã có cả một sách lược lâu dài, xuất phát từ những nghiên cứu khách quan, khoa học.
Khi không chịu để cho Nhà Nước “nắm”
Kể từ khi Việt minh lên cướp chính quyền năm 1945 cho đến khi Công Đồng Va-ti-ca-nô II kết thúc, Giáo Hội Công Giáo cương quyết chống lại chủ nghĩa cộng sản. Do đó, ngay cả các linh mục (ngoại trừ một số rất nhỏ, và số này lại bị cộng đoàn tín hữu coi thường) cũng không chịu để cho Nhà Nước “nắm”, còn nói chi các giám mục. Với Công Đồng Va-ti-ca-nô II, lằn ranh không còn ở giữa các chế độ như tư bản hay cộng sản, nhưng giữa tốt và xấu, giữa thiện với ác. Giáo Hội chủ trương cởi mở, đối thoại với mọi thể chế chính trị. Ta hiểu được tại sao tại miền Nam sau 1975, Giáo Hội Công Giáo không còn thái độ chống cộng cách quyết liệt như ngoài miền Bắc. Trước khi tràn tới Sài Gòn, Việt cộng đã chiếm được Huế. Chính vì vậy mà vị giám mục đầu tiên công khai kêu mời tín hữu Công Giáo chấp nhận “chính quyền cách mạng” và sẵn sàng hợp tác, không ai khác hơn là Tổng Giám Mục Huế, Đức Cha Phi-líp-phê Nguyễn Kim Điền. Nhưng chính vì chỉ chấp nhận đối thoại, hợp tác, chứ không chịu để cho Nhà Nước “nắm”, nghĩa là lợi dụng, chi phối, lèo lái, mà Đức Tổng Điền đã phải điêu đứng suốt một thời gian dài trước khi chết (có người đã không ngại nói là ngài bị đầu độc).
Năm 1975, tại Sài Gòn, vị giám mục được Toà Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Phó với quyền kế vị, là Đức Cha Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận. Chính vì biết rằng Đức Cha Thuận sẽ không phải là người để cho Nhà Nước “nắm”, nên Nhà Nước đã dứt khoát đẩy ra khỏi Sài Gòn, thậm chí tống vào hoả lò. Biết rằng tiếp tục để ngài ở lại Việt Nam thì chẳng khác chi ôm một thùng thuốc nổ, nên cuối cùng Nhà Nước đã chọn giải pháp triệt để, là tống ra không phải chỉ khỏi thủ đô Hà Nội, nhưng là khỏi nước Việt Nam.
Đến đây ta hiểu tại sao Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội, lại bị chính quyền Hà Nội đề nghị với HĐGM/VN “chuyển nơi hoạt động tôn giáo ra khỏi Giáo phận Hà Nội”. Đơn giản chỉ vì Nhà Nước đã thấy ngài “nắm” được linh mục, “nắm” được giáo dân, nhưng chính ngài lại không chịu để cho Nhà Nước “nắm”. Và nếu ngài bị đẩy ra khỏi Hà Nội, thì cũng có nghĩa là bị đẩy ra khỏi Việt Nam, vì thử hỏi : sau Hà Nội, có chính quyền địa phương nào lại dám đứng ra lãnh cái “của nợ” ấy !
Kết luận
Nếu, như lời một viên chức công an, chính sách của Nhà Nước đối với Công Giáo, chủ yếu là “nắm” các giám mục, thì câu hỏi được đặt ra là : liệu các ngài có chịu để cho mình bị “nắm” hay không. Trên đây tôi đã đưa ra hai trường hợp : Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, và Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. Còn các vị khác trong HĐGM hiện nay thì sao ? Có vẻ như ta đã có được câu trả lời qua các vụ Toà Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Toà… Đúng là muốn “nắm” Giáo Hội Công Giáo, chỉ cần “nắm” các giám mục. Đặc biệt hơn cả là vụ Đồng Chiêm, và tiếp theo sau là bản “Lên tiếng hay không lên tiếng”, cho ta thấy rõ : các ngài đã bị “nắm” chặt tới mức nào.
Phụ lục 1
Thư Chung 1980
của Hội đồng Giám mục Việt Nam
Hội đồng Giám mục Việt Nam gửi toàn thể linh mục, tu sĩ và giáo dân cả nước:
THÔNG TIN VỀ ĐẠI HỘI GIÁM MỤC TOÀN QUỐC
1. Trong tâm tình biết ơn
Anh chị em thân mến,
Anh chị em hãy cùng chúng tôi dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về Hội nghị các giám mục toàn quốc, tổ chức tại Hà Nội, thủ đô Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chúng ta, từ 24-4 đến 1-5-1980.
Kể từ lúc thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam vào năm 1960, và nhất là từ ngày nước nhà được thống nhất, chúng ta đều ước mong có cuộc họp này. Toà Thánh và riêng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mỗi khi có dịp cũng luôn bày tỏ một tâm tình như vậy, diễn tả ý muốn của chính Công đồng Vatican II.
Vì thế chúng ta thành thật biết ơn Chính Phủ đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho Đại hội này. Chúng tôi cũng cám ơn anh chị em đã cầu nguyện nhiều cho Đại hội này được thành công tốt đẹp.
2. Một tuần lễ làm việc
Chúng tôi vui mừng được gặp nhau, và trong suốt một tuần lễ làm việc, chúng tôi được dịp hiểu biết tình hình giáo phận trong cả nước. Nhờ đó chúng tôi thấy rằng, mặc dù sống xa nhau, tâm hồn chúng tôi vẫn là một, và cùng chia sẻ những nỗi âu lo, niềm phấn khởi và nguyện vọng của toàn thể Dân Chúa trên đất nước thân yêu này.
Trong tinh thần hợp nhất ấy, chúng tôi đã cầu nguyện và suy nghĩ nhiều về nhiệm vụ của Giáo Hội chúng ta trong giai đoạn lịch sử này. Chúng tôi đã duyệt lại nội quy và đặt lại cơ cấu của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Chúng tôi cũng đã chuẩn bị việc tham dự Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới khoá V về “các chức năng của gia đình Kitô giáo trong thế giới hôm nay”, và việc các giám mục Việt Nam đi viếng mộ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô tại Toà Thánh Roma năm nay theo quy định của Giáo luật.
Trước khi bế mạc Đại hội, chúng tôi đã vào lăng kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, và đã đến yết kiến Thủ tướng Chính phủ.
3. Ý nghĩa việc đi Roma
Việc đi viếng mộ các Tông đồ và việc tham dự Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới tại Roma nói lên hai đặc tính của Hội Thánh Chúa Kitô là phổ quát và hợp nhất, đồng thời thể hiện tinh thần tập thể và đồng trách nhiệm của các giám mục đối với Hội Thánh toàn cầu. Xin anh chị em cầu nguyện nhiều để chúng tôi hoàn thành tốt đẹp sứ mạng này.
4. Tổ chức Hội đồng Giám mục Việt Nam
Chúng tôi cũng phải cùng nhau gánh vác mọi trách nhiệm của chức vụ giám mục trong tinh thần tập thể và đồng trách nhiệm. Bởi thế, việc thành lập Hội đồng Giám mục Việt Nam là để phục vụ anh chị em đắc lực hơn, vì như ý Công đồng Vatican II, Hội đồng Giám mục là nơi quy tụ các vị lãnh đạo Giáo Hội trong một quốc gia hay một lãnh thổ để hợp nhất với nhau thi hành mục vụ theo thể cách và phương thức thích hợp với hoàn cảnh (GM 30,1).
ĐƯỜNG HƯỚNG MỤC VỤ
A. MỘT HỘI THÁNH VÌ LOÀI NGƯỜI
5. Ánh sáng từ một thông điệp
Anh chị em thân mến,
Bước vào giai đoạn mới này của dân tộc, chúng tôi muốn nhìn vào gương Đức Phaolô VI khi người mới làm giáo hoàng. Trong thông điệp đầu tiên của người nhan đề “Giáo Hội Chúa Kitô”, người đã suy nghĩ nhiều về sứ mạng của Hội Thánh trong thế giới hôm nay. Mối bận tâm chính của người xoay quanh 3 tư tưởng lớn. Tư tưởng thứ nhất là đã đến lúc Giáo Hội phải có một nhận định sâu xa về chính mình, phải suy gẫm về mầu nhiệm của mình. Tư tưởng thứ hai là “đem bộ mặt thực của Giáo Hội ngày nay đối chiếu với hình ảnh lý tưởng của Giáo Hội như Đức Kitô đã thấy, đã muốn và đã yêu như bạn thánh thiện và tinh tuyền của mình” (Ep 5,27), từ đó “sinh ra một ước muốn quảng đại và bức thiết là phải canh tân”. Còn tư tưởng thứ ba như là kết luận của hai tư tưởng trên, nói về những quan hệ phải có giữa Giáo Hội và thế giới (GHCK 9-14).
Đức Thánh Cha nhận định thêm rằng, ba đề tài trên cũng là mối bận tâm của mọi thành phần Dân Chúa. Vậy chúng tôi giới thiệu những đề tài ấy với anh chị em để chúng ta tâm niệm hằng ngày.
6. Hội Thánh là Dân Thiên Chúa
Công đồng dựa vào lịch sử cứu chuộc để tìm hiểu và trình bày bản chất của Hội Thánh. Trong chương trình cứu chuộc loài người, Thiên Chúa đã lấy giao ước quy tụ một dòng dõi làm dân riêng của Người. Và qua lịch sử dân ấy, Người đã mạc khải chính mình Người và ý định cứu chuộc của Người cho toàn thể nhân loại. Nhưng dân ấy chỉ là hình bóng và là công cuộc chuẩn bị cho dân mới của Thiên Chúa, sẽ được quy tụ bằng giao ước mới mà Chúa Giêsu Kitô đã thiết lập bằng Máu Thánh Người.
Dân giao ước mới này chính là Hội Thánh Chúa Kitô, quy tụ mọi người từ khắp mọi nơi mọi nước trên trần gian, vượt thời gian và biên giới các dân tộc. Chúa Thánh Thần nối kết họ nên một khi giải phóng họ khỏi tội lỗi và ban cho họ được làm con cái Thiên Chúa. Họ có giới răn mới là bác ái yêu thương (Ga 13,34) và ngay từ buổi đầu, họ đã là một cộng đoàn có tổ chức với những phận vụ khác nhau do chính Chúa Giêsu Kitô đã thiết lập hầu mưu ích cho toàn Nhiệm Thể (GH 18). Mục đích của dân mới là “phát triển Nước Chúa cho tới khi hoàn tất” (GH 9,3).
7. Hội Thánh vì loài người
Dân cũ có sứ mạng đón nhận ơn cứu chuộc cho cả nhân loại. Dân mới có sứ mạng đem ơn cứu chuộc đến từng dân tộc và từng người qua mọi thời đại, như lời Công đồng Vatican II: “Dân mới được Chúa Kitô thiết lập để thông dự vào sự sống, bác ái và chân lý, được Người sử dụng như khí cụ cứu rỗi cho mọi người, và được Người sai đi khắp thế giới như ánh sáng trần gian và như muối đất” (Mt 5,13-16; GH 9,2).
Người sử dụng họ làm khí cụ cứu rỗi, bởi vì “Thiên Chúa không muốn thánh hoá và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ và thiếu liên kết, nhưng muốn quy tụ họ thành một dân để họ nhận biết chính Người trong chân lý và phụng sự Người trong thánh thiện” (GH 9,1). Do đó, mục tiêu cuối cùng trong mọi sinh hoạt của Hội Thánh là đưa loài người và tất cả thực tại của thế giới loài người đến thông dự vào sự sống, bác ái và chân lý của Thiên Chúa. Theo ý nghĩa này, Công đồng gọi Hội Thánh là “Bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hợp nhất toàn thể nhân loại” (GH 1).
Bởi vậy, sứ mạng của Hội Thánh không những là đem Phúc Âm thấm nhuần và hoàn thiện những thực tại trần thế (TĐ 5). Không có sinh hoạt nào của con người lại xa lạ đối với sứ mạng của Hội Thánh, và ngược lại không có sinh hoạt nào của Hội Thánh không liên quan tới tất cả cuộc sống con người. Lời rao giảng Tin Mừng và các cử hành bí tích đem ân sủng của Thiên Chúa vào đời sống con người, còn sinh hoạt trần thế của tín hữu đem thực tại của con người đến với Thiên Chúa. Do đó đối với người tín hữu, xao lãng bổn phận trần thế tức là xao lãng bổn phận đối với tha nhân, và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của mình bị đe doạ (MV 43).
Tóm lại, sứ mạng của Hội Thánh là tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã đến không phải để được người ta hầu hạ, nhưng để phục vụ tất cả loài người. Đúng như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã giải thích trong thông điệp “Đấng Cứu Chuộc Con Người” rằng: “Con người là con đường của Hội Thánh”. Nghĩa là tất cả mọi con đường của Hội Thánh đều dẫn tới con người (ĐCCCN 14). Đây cũng là điểm gặp gỡ giữa Hội Thánh và xã hội trần thế, vì “dù tin hay không tin, con người đều phải góp phần xây dựng thế giới cho hợp lý, vì họ cùng chung sống trong thế giới này” (MV 21,6).
B. HỘI THÁNH TRONG LÒNG DÂN TỘC
8. Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô
Để sống trung thành với bản chất và sứ mạng của Hội Thánh như vừa nói ở trên, chúng tôi đề ra đường hướng mục vụ sau đây: chúng ta phải là Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô trong lòng dân tộc Việt Nam.
Trước hết, chúng ta phải là Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô nghĩa là:
- Gắn bó với Chúa Kitô và hợp nhất với Hội Thánh toàn cầu.
- Gắn bó với Đức Giáo hoàng, vị đại diện Chúa Kitô, người được Chúa giao trách nhiệm “chăn dắt đoàn chiên của Người” (Ga 21,15-18), và “làm cho anh em vững mạnh” (Lc 22,32).
- Gắn bó với nhau trong tình huynh đệ theo kiểu mẫu Hội Thánh thời sơ khai: “Chỉ có một tấm lòng, một linh hồn, không một người nào nói là mình có của riêng nhưng đối với họ, mọi sự là của chung” (Cv 4,32; 2,42).
- Trung thành với tinh thần của Công đồng Vatican II là tinh thần cởi mở, đối thoại và hoà mình với cộng đồng xã hội mình đang sống.
Để đạt mục đích ấy, trước hết chúng ta phải không ngừng hoán cải lương tâm và thay đổi cách sống của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đoàn Dân Chúa trong Hội Thánh ở Việt Nam sao cho phù hợp với Phúc Âm hơn. Công việc này chúng ta thực hiện nhờ lắng nghe Lời Chúa, lãnh nhận các bí tích, chuyên cần cầu nguyện và thành tâm kiểm điểm đời sống (LBTM 15).
9. Gắn bó với dân tộc và đất nước
Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Công đồng dạy rằng “Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới” (MV 40,2). Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa.
Sự gắn bó hoà mình này đưa tới những nhiệm vụ cụ thể mà chúng ta có thể tóm lại trong hai điểm chính:
- Tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc.
- Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc.
10. Cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc
Về nhiệm vụ thứ nhất là tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc, chúng tôi muốn khẳng định rằng: yêu tổ quốc, yêu đồng bào, đối với người Công giáo không những là một tình cảm tự nhiên phải có mà còn là một đòi hỏi của Phúc Âm, như Công đồng nhắc nhở: “Các người Kitô giáo từ mọi dân tộc tụ họp trong Hội Thánh, không phân cách với những người khác về chế độ, cũng như về tổ chức xã hội trần gian, nên họ phải sống cho Thiên Chúa và cho Chúa Kitô trong nếp sống lành mạnh của dân tộc mình; là công dân tốt, họ phải thật sự và tích cực vun trồng lòng yêu nước” (TG 15).
Lòng yêu nước của chúng ta phải thiết thực, nghĩa là chúng ta phải ý thức những vấn đề hiện tại của quê hương, phải hiểu biết đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà Nước, và tích cực cùng đồng bào toàn quốc góp phần bảo vệ và xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, tự do và hạnh phúc.
Trong công cuộc phục vụ quê hương, Phúc Âm cho chúng ta ánh sáng và sức mạnh để khắc phục các khó khăn và các xu hướng cá nhân ích kỷ, nêu cao tinh thần phục vụ của bác ái phổ quát, hướng tới cảnh “Trời Mới Đất Mới” (Kh 21,1), trong đó tất cả đều hoà hợp hạnh phúc. Và khi phải phấn đấu xoá bỏ những điều tiêu cực, chúng ta có ơn của Chúa Kitô Phục Sinh để mặc lấy con người mới công chính và thánh thiện.
11. Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc
Về nhiệm vụ thứ hai là xây dựng trong Hội Thánh một lối sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp hơn với truyền thống dân tộc. Chúng tôi muốn thực hiện điều Công đồng Vatican II đã tuyên bố: “Những gì tốt đẹp trong tâm hồn và tư tưởng của loài người hoặc trong lễ nghi và văn hoá riêng của các dân tộc, hoạt động của Hội Thánh không nhằm tiêu diệt, nhưng làm cho lành mạnh, nâng cao và kiện toàn, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người” (GH 17,1). Muốn thế, một đàng chúng ta phải đào sâu Thánh Kinh và Thần học để nắm vững những điều cốt yếu của đức tin, đàng khác, phải đào sâu nếp sống của từng dân tộc trong nước, để khám phá ra những giá trị riêng của mỗi dân tộc. Rồi từ đó, chúng ta vận dụng những cái hay trong một kho tàng văn hoá và xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp hơn với truyền thống của mỗi dân tộc đang cùng chung sống trên quê hương và trong cộng đồng Hội Thánh này.
NGỎ LỜI VỚI CÁC THÀNH PHẦN DÂN CHÚA
12. Ngỏ lời với giáo dân
Với anh chị em giáo dân, chúng tôi muốn nói lên lòng cảm phục tâm hồn đạo đức của anh chị em trong việc đọc kinh cầu nguyện, hiệp dâng thánh lễ và lãnh nhận các bí tích. Chúng tôi cảm ơn anh chị em xưa nay vẫn một lòng kính yêu, vâng phục, giúp đỡ chúng tôi và các người làm việc tông đồ.
Chúng tôi xin dựa vào Công đồng để nói với anh chị em rằng: Ơn gọi của anh chị em là nên thánh giữa đời bằng cách sống Phúc Âm của Chúa Kitô trong các phận sự trần thế (GH 31; MV 43). Nhờ anh chị em, Giáo Hội hiện diện ngay trong xã hội và góp phần xây dựng đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc. Nghĩa vụ cao cả của anh chị em là sống làm người tín hữu trung thành của Hội Thánh Chúa Kitô và làm người công dân tốt của tổ quốc. Để giúp anh chị em chu toàn nghĩa vụ đó, chúng tôi đặc biệt nhắc nhở anh chị em vài điểm sau đây:
Anh chị em hãy tin vào ơn Chúa Thánh Thần đã được đổ xuống trong lòng để nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện của anh chị em: cầu nguyện riêng, cầu nguyện chung trong gia đình và trong xứ đạo, và nhất là anh chị em hãy đào sâu đức tin bằng việc học và dạy giáo lý ngay trong gia đình của mình. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong Tông huấn về việc dạy giáo lý, đã lưu ý chúng ta rằng: “Việc dạy giáo lý trong gia đình đi trước, kèm theo và phong phú hoá mọi hình thức dạy giáo lý khác” (DGL). Gia đình của anh chị em phải trở nên như một trường học về đức tin, một nơi để cầu nguyện, một môi trường sống bác ái yêu thương và rèn luyện tinh thần tông đồ để làm chứng nhân cho Chúa (Cv 22, 42; 1, 8 GH 11; TĐ 11; LBTM 71).
Nhưng trước tiên gia đình của anh chị em phải được xây dựng theo phép đạo. Chúng tôi tha thiết kêu gọi anh chị em thanh niên quan tâm vun trồng tình yêu trong sạch, và khi lập gia đình, liệu cho hôn nhân của mình chan chứa phúc lành của Thiên Chúa.
Các nỗ lực để xây dựng gia đình Công giáo theo tinh thần Phúc Âm phải đồng thời làm phát triển nơi anh chị em và con cái những đức tính của người công dân tốt, nhất là ý thức về chân lý và công bình, và tinh thần sẵn sàng phục vụ lợi ích của Tổ Quốc. Nhờ hiện diện và sinh hoạt tích cực giữa đời như vậy, anh chị em sẽ làm sáng danh Chúa và góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng đất nước.
13. Ngỏ lời với các tu sĩ
Đối với các tu sĩ nam nữ, chúng tôi đánh giá cao sự hiện diện và đóng góp của anh chị em trong đời sống của Dân Chúa. Giáo Hội qua mọi thời luôn quý trọng ơn gọi tu sĩ như một dấu hiệu chứng tỏ sự trưởng thành và sức sống phong phú của Hội Thánh tại các địa phương. Do đó chúng tôi muốn nói với anh chị em: hãy xác tín về ý nghĩa và giá trị cao quý của ơn gọi mình. Dầu sinh hoạt bên ngoài có thay đổi, sứ mạng đặc biệt của anh chị em vẫn luôn là “hiện thân của một Hội Thánh muốn hiến mình cho đường lối triệt để của các Mối Phúc Thật”, và anh chị em “dùng chính cuộc sống của mình làm dấu chỉ cho tinh thần sẵn sàng phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và anh em đồng loại” (LBTM 60; GH 44).
Chính anh chị em sẽ tự thấy được rằng đường hướng mà chúng tôi vạch ra cho cả Hội Thánh ở Việt Nam: sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc với tinh thần sẵn sàng phục vụ, phù hợp cách riêng với ơn gọi của anh chị em. Do đó, anh chị em hãy nêu gương cho giáo dân bằng việc tích cực đi vào con đường ấy.
Chúng tôi đặc biệt kêu mời anh chị em hãy quan tâm tuân giữ Luật dòng, rồi cùng nhau tìm ra, qua suy nghĩ chung và đối thoại, một thế quân bình lành mạnh cho đời sống tận hiến của mình: làm sao dung hoà giữa lao động và cầu nguyện, giữa việc hoà mình vào các sinh hoạt xã hội - không chỉ vì kế sinh nhai, nhưng nhất là để làm chứng nhân cho Chúa - và sự trung thành với đời sống cộng đoàn, dung hoà giữa các tổ chức riêng của mỗi hội dòng và sự hội nhập vào đời sống của Giáo hội địa phương trong sự hiệp thông với cộng đồng Dân Chúa và Hàng Giáo phẩm.
14. Ngỏ lời với các linh mục
Sau hết, đối với các linh mục, triều cũng như dòng, là những cộng sự viên gần gũi nhất của Hàng Giám mục, chúng tôi cám ơn anh em vẫn tận tuỵ phục vụ cộng đồng Dân Chúa. Anh em hãy lấy làm hãnh diện vì anh em đang được lòng tin tưởng, mến yêu của đoàn chiên. Chính Chúa Thánh Thần đã cùng với anh em trực tiếp hình thành nên đoàn chiên hiện nay. Anh em hãy tiếp tục làm công việc cao quý ấy trong sự hiệp thông mật thiết với Hàng Giám mục chúng tôi.
Thư Chung này vạch ra đường hướng rõ rệt: chúng ta hãy làm cho mọi tín hữu biết sống Phúc Âm trong tinh thần yêu mến và trung thành với Hội Thánh, trước hết bằng chính đời sống của chúng ta. Công đồng Vatican II lưu ý: “Trong những đức tính cần thiết hơn cả cho chức vụ linh mục, phải kể đến tâm trạng này là bao giờ cũng sẵn sàng tìm ý muốn của Đấng đã sai mình chứ không phải tìm ý riêng” (LM 15). Anh em hãy áp dụng những lời này tiên vàn cho việc rao giảng Lời Chúa và cử hành Phụng vụ Thánh, là những phương tiện mà Chúa Giêsu Kitô muốn dùng, xuyên qua thừa tác vụ linh mục của anh em, để xây dựng Nhiệm Thể Người một cách đặc biệt. Trong những gì liên quan tới đường hướng mục vụ và đời sống phụng vụ của Giáo Hội, anh em hãy thống nhất hành động với nhau và với Hàng Giám mục vì lợi ích của Dân Chúa, bởi vì anh em là những “nhà giáo dục đức tin” (LM 6; DGL 64).
Anh em cũng hãy làm cho Chúa Giêsu Kitô hiện diện thật sự giữa đoàn chiên, khi anh em phục vụ các tín hữu cách tận tâm và khiêm tốn (LM 15). Nhất là được nhìn nhận như là người đại diện chính thức của Hội Thánh tại địa phương, anh em hãy trở nên hình ảnh của Chúa Cứu Thế, vị Mục Tử hiền lành và khiêm nhường, để cống hiến ơn cứu độ cho mọi người. Xin anh em hãy cùng với chúng tôi đưa Hội Thánh ở Việt Nam đi vào con đường đã lựa chọn: là sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào.
KẾT LUẬN
15. Quá khứ, hiện tại và tương lai
Anh chị em thân mến, hơn ai hết, các giám mục chúng tôi ý thức về giới hạn trong khả năng và tài đức của mình trước nghĩa vụ đối với Thiên Chúa và Tổ Quốc. Anh chị em hãy cầu nguyện nhiều cho chúng tôi.
Nhìn về quá khứ, chúng tôi cảm mến sâu sắc bàn tay nhân lành của Thiên Chúa đã êm ái và mạnh mẽ hướng dẫn Hội Thánh Người trên đất nước Việt Nam chúng ta. Chúng tôi biết ơn công lao của vô vàn tín hữu, đã làm sáng tỏ đức tin và lòng yêu nước của mình. Đừng nhìn quá khứ với mặc cảm và phán đoán tiêu cực. Lịch sử luôn pha lẫn ánh sáng và bóng tối, cũng như đời sống những người con của Chúa vẫn có cả ân sủng và tội lỗi. Nhưng dựa vào tình thương của Chúa Cha, dựa vào Lời ban sự sống của Chúa Giêsu Kitô và sức mạnh của Chúa Thánh Thần, chúng ta hãy mạnh dạn nhìn vào hiện tại và tin tưởng ở tương lai.
Chúng ta có giáo lý của Công đồng Vatican II như luồng gió mát của Chúa Thánh Thần thổi trong Hội Thánh; chúng ta tự hào là công dân nước Việt Nam anh hùng độc lập thống nhất; và trong đà phát triển chung của cả nước, chúng ta được tình đồng bào thông cảm và giúp đỡ trong khối đại kết dân tộc, nên chúng ta hãy hân hoan chu toàn sứ mạng vinh quang của mình.
Rồi đây với ơn Chúa giúp và hoàn cảnh cho phép, chúng tôi hy vọng sẽ có thể dần dần đề ra những công việc cụ thể để hết thảy chúng ta cùng làm, mỗi người tuỳ cương vị khả năng của mình, hầu góp phần xây dựng Tổ Quốc và Giáo hội Việt Nam.
Nguyện xin Thiên Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, Thánh cả Giuse và các Thánh Bổn mạng của Hội Thánh Việt Nam, ban muôn phúc lành cho anh chị em.
Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 1980
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
Phụ lục 2
THƯ NGỎ
CỦA CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAM 2002
kính gửi Quý vị lãnh đạo các cơ quan lập pháp của Nhà nước Việt Nam:
Quốc hội và các Hội đồng Nhân dân
“Phục vụ con người là mục đích tối cao” của mọi tổ chức và cơ chế xã hội (xem Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI), vì lẽ con người là mục đích, là cứu cánh, là trọng tâm của mọi hoạt động văn hóa, kinh tế, xã hội. Từ chân lý căn bản này về con người với nhân phẩm và nhân quyền của họ, nảy sinh những nhu cầu, những đòi hỏi bức thiết phải đáp ứng để xây dựng và phát triển một xã hội nhân bản, một xã hội không làm què quặt và hủy hoại con người. Những đòi hỏi bức thiết đó là:
I- Xóa giảm những khuyết tật hiện hữu của xã hội;
II- Phát huy những giá trị nhân bản làm cho con người ngày càng trở nên người hơn, sống xứng với phẩm giá của mình hơn.
I. XÓA GIẢM NHỮNG KHUYẾT TẬT HIỆN HỮU CỦA XÃ HỘI
1. Khuyết tật thứ nhất là hiện tượng tha hóa con người.
Sự tha hóa con người xuất hiện và lớn dần trong xã hội hiện nay:
- khi chủ nghĩa tiêu thụ đưa đẩy con người vào trong một mạng lưới những thỏa mãn hời hợt, giả dối;
- khi lao động được tổ chức nhằm bảo đảm tối đa cho lợi nhuận mà không lưu tâm cải thiện đời sống và thăng tiến phẩm giá người lao động;
- khi diễn ra sự đảo ngược giữa phương tiện và mục đích: con người vốn là mục đích của sự phát triển thì lại bị biến thành đơn thuần là phương tiện sản xuất;
- khi tự do được coi như là quyền được làm bất cứ điều gì mình thích, bất cứ điều gì mà cảm tính của mình cho là có lợi trước mắt cho bản thân, cho phe phái, đang khi tự do đích thực là quyền làm những gì mà lương tâm thấy được phép làm vì công ích, vì lợi ích của thế hệ hiện tại và mai sau. Thực tế cuộc sống hiện tại cho thấy: khi tách lìa chân lý về con người với nhân phẩm và nhân quyền của họ, tự do trở thành sự tùy tiện hoặc ngẫu hứng của những kẻ có quyền thế.
2. Khuyết tật thứ hai là cơ chế bất công và tha hóa con người.
Cơ chế xin-cho là một điển hình. Cơ chế xin-cho là một cơ chế bất công và tha hóa con người vì những lý do sau đây:
- Cơ chế xin-cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền mà Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân dưới dạng những cái phép, đồng thời biến Nhà Nước từ một tổ chức có chức năng phục vụ công ích trở thành một chủ nhân ông nắm các quyền tự do của người dân và ban phát các phép tự do lại cho họ thường theo sự tùy tiện chủ quan hơn là theo những tiêu chuẩn khách quan. Như thế cơ chế xin-cho vừa đi ngược lại công ích và xóa đi các quyền tự do của người dân, vừa bôi đen hình ảnh của một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân. Đó là điều làm tha hóa con người.
- Theo thông tin của báo chí, cơ chế xin-cho còn là nguyên nhân làm thất thoát 50% các nguồn thu vào công quỹ, và làm thất thoát 50% phần còn lại khi phải chi ra cho công ích. Điều này có nghĩa là 5% hoặc 7% dân số là những người có thế lực và quyền lực thì hưởng 75% từ công quỹ quốc gia (trong con số 75%, có 50.000 tỷ đồng/năm của riêng ngành xây dựng), phần còn lại của dân số là hơn 70 triệu dân chỉ hưởng được 25%. Thực tế này tạo ra một tình trạng bất công trầm trọng trong xã hội và không ngừng làm gia tăng hố sâu cách biệt giàu nghèo trong lòng một dân tộc. Chính vì thế mà tham nhũng một cách có hệ thống quy mô trong xã hội ngày nay không những là một quốc nạn, song còn là một tội ác đối với đất nước và dân tộc.
II. PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN BẢN LÀM CHO CON NGƯỜI NGÀY CÀNG TRỞ NÊN NGƯỜI HƠN, SỐNG XỨNG VỚI PHẨM GIÁ CỦA MÌNH HƠN
1. Phát huy phẩm giá con người. Điều này đòi hỏi trong các quan hệ xã hội phải quan tâm tôn trọng con người như là trọng tâm của mọi hoạt động văn hóa, kinh tế, xã hội, nghĩa là các sinh hoạt văn hóa, kinh tế, xã hội phải hướng đến sự phát triển và thăng tiến con người toàn diện cả mọi mặt vật chất, tinh thần và tâm linh. Khi một trong ba mặt thiếu phát triển, con người trở nên hụt hẫng, què quặt, dị tật.
2. Phát triển xã hội và thăng tiến con người trên nền tảng chân lý. Một xã hội được coi là có trật tự và phù hợp với nhân phẩm khi đặt nền tảng trên chân lý. Chân lý căn bản trong quan hệ giữa người với người là mọi người đều bình đẳng về nhân phẩm. Chân lý này đòi hỏi phải gạt bỏ mọi kỳ thị và phân biệt đối xử, phải xóa đi những hình thức chuyên chế, phải loại trừ mọi gian dối xảo trá ngày nay đang tràn lan trong mọi lãnh vực của cuộc sống con người và xã hội.
3. Phát huy tình liên đới trong mọi sinh hoạt gia đình và xã hội. Tình liên đới chỉ được xây dựng và phát huy vững bền trên nền tảng tôn trọng con người, tôn trọng các quyền của họ, tôn trọng sự tự lập chính đáng và quyền tự quyết của con người, tôn trọng các giá trị đạo đức trong truyền thống văn hóa. Tình liên đới đòi hỏi phải nhìn xa hơn bản thân của tổ chức, của phe phái để phục vụ cho sự phát triển của xã hội, cho sự thăng tiến của con người và gia đình.
4. Phát huy tính phụ đới. Tình liên đới trong sự tôn trọng các quyền tự do của con người đòi hỏi tổ chức xã hội phải mang tính phụ đới. Tính phụ đới là một đặc tính của tổ chức xã hội trong đó một tập thể cấp cao không can thiệp vào nội bộ của một tập thể cấp thấp, không làm mất thẩm quyền và tính tự lập của nó, song tạo điều kiện giúp nó phối hợp hoạt động của mình với những hoạt động của tập thể khác nhằm mưu cầu công ích. Do đó, con đường phát huy tính phụ đới đòi hỏi:
Chính quyền tạo điều kiện cho các cá nhân và tập thể công dân sử dụng các quyền của con người. Trong các quyền đó, phải kể đến quyền bình đẳng, quyền và bổn phận chu cấp cho các nhu cầu vật chất, tinh thần và tâm linh của cuộc sống con người, gia đình và tập thể, quyền sáng kiến và tham gia các hoạt động phát triển xã hội, thăng tiến con người và gia đình, cả việc củng cố nền tảng pháp lý của cộng đoàn chính trị trong một quốc gia.
Dành cho mình độc quyền hay một quyền hành quá lớn trong các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội, đó là con đường dẫn đến chuyên chế và độc tài, quan liêu và bao cấp, áp bức và bất công, là những tệ nạn làm tha hóa con người.
Tính phụ đới theo nghĩa trên là nền tảng để xây dựng một xã hội dân chủ, một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân. Thiếu nền tảng này, Nhà Nước với chức năng phục vụ công ích trở thành một cỗ máy thống trị độc tài, và nhân dân từ địa vị làm chủ đất nước trở thành phương thế phục vụ cho cỗ máy đó. Đó là điều làm tha hóa con người và phân hóa xã hội.
5. Phát huy ý thức và thiện chí phục vụ công ích. Trước hết công ích đòi hỏi phải tôn trọng con người, tôn trọng nhân phẩm và các quyền tự do của họ. Do đó, chức năng phục vụ cho công ích đòi buộc chính quyền:
(1) tạo điều kiện bảo đảm cho mọi công dân hưởng những nhu yếu sao cho xứng hợp với phẩm giá con người;
(2) xóa bỏ những luật lệ bất công và những biện pháp trái với luân thường đạo lý trong truyền thống văn hóa của dân tộc, vì lẽ đây là những cơ chế và biện pháp làm tha hóa con người. Cơ chế xin-cho là một điển hình về luật lệ bất công. Phá thai hằng năm hơn cả triệu trường hợp là một điển hình về biện pháp trái với luân thường đạo lý mà những hậu quả đã và đang diễn ra không biết đưa tương lai dân tộc đi về đâu.
Kính thưa Quý Vị,
Là những người yêu mến quê hương, ai trong chúng ta cũng mong muốn xây dựng Việt Nam thành một đất nước giàu đẹp, văn minh, giàu tính nhân bản. Chính trong tinh thần đó, chúng tôi xin gửi đến Quý Vị thư ngỏ này.
Kính chúc Quý Vị luôn an lành, mạnh khoẻ và thành đạt.
Trân trọng kính chào.
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
MỤC LỤC
(Theo thứ tự thời gian)
14-09-2008 MỤC LỤC (Theo thứ tự A B C) 103




